BỒ TRUNG ÍCH KHÍ THANG

BỒ TRUNG ÍCH KHÍ THANG

( Tỳ vị luận)

Thành phần:

Hoàng kỳ 20g

Chích thảo 4g

Thăng ma 4 – 6g

Đảng sâm 12 – 16g

Đương qui 12g

Sài hồ 6 – 10g

Bạch truật 12g

Trần bì 4 – 6g

Cách dùng: sắc nước uống.

Tác dụng: Điều bổ tỳ vị, thăng dương ích khí.

Giải thích bài thuốc:

Là bài thuốc chủ yếu chữa tỳ vị khí hư hạ hãm, sinh ra triệu chứng sa nội tạng như sa dạ dày, sa tử cung, sa trực tràng hoặc chứng tỳ khí hư không nhiếp thống được huyết gây chứng rong kinh ở phụ nữ hoặc kiết lị kéo dài. Trong bài:

  • Hoàng kỳ bổ trung ích khí, thăng dương cố biểu là chủ dược.
  • Đảng sâm, Bạch truật, Chích thảo ích khí bổ tỳ kiện vị.
  • Trần bì lý khí hóa trệ.
  • Thăng ma, Sài hồ hợp với Sâm Kỳ để ích khí thăng đề.
  • Đương qui bổ huyết hòa vinh.

Các vị thuốc hợp lại thành bài thuốc có tác dụng bổ trung ích khí, thăng dương cố biểu làm cho tỳ vị được cường tráng, trung khí được đầy đủ.

Ứng dụng lâm sàng:

  1. Trên lâm sàng bài thuốc có thể dùng để chữa cơ thể vốn hư nhược dễ bị cảm mạo, mệt mỏi ra mồ hôi.
  2. Những trường hợp khí hư hạ hãm gây nên các chứng sa nội tạng như sa tử cung, sa thận, sa dạ dày, thoát vị bẹn hoặc sụp mi; dùng bài thuốc gia thêm Chỉ xác hoặc Chỉ thực có kết quả tốt.
  3. Trường hợp bệnh đường ruột mạn tính, rối loạn tiêu hóa kéo dài, cơ thể hư nhược có thể dùng bài này có hiệu quả tốt.
  4. Trường hợp do khí huyết hư nhược gây nên sốt kéo dài cũng có thể dùng bài thuốc này có kết quả, gọi là phép chữa” Cam ôn trừ đại nhiệt”.

Biến phương của bổ trung ích khí

1.Sâm truật ích vị thang (Tỳ vị luận – Lý Đông Viên), tăng đôi lượng Bạch truật, thêm : Bán hạHoàng cầmÍch trí nhân.
Chủ trị : Hư lao, ăn không biết ngon, đại tiểu tiện rối loạn.
Dược : Thương truật 30g, Hoàng kỳ 15g, Nhân sâmĐương quy thân, Thăng ma đều 10g, Trần  7g, Sài hồ, Chích Cam thảo đều 5g,Hoàng cầmIch trí nhânBán hạ đều 3g, Đại táo 4 quả, Sinh khương 3 lát. Sắc uống.

2.Thăng dương thuận khí thang (Nội ngoại thương biện hoặc luận, quyển thượng – Lý Đông Viên), bỏ Bạch truật, thêm : Thảo đậu khấuThần khúcBán hạHoàng bá.
Chủ trị : Thiếu hơi, biếng ăn, đầy trướng. Dược : Hoàng kỳ 40g, Nhân sâmBán hạ đều 12g, Thần khúc 6g, Sài hồĐương quyThăng maTrần bì đều 4g, Hoàng báCam thảo đều 2g, Đại táo 2 quả, Gừng 3 lát.
Tên khác : Cường vị thang (Tỳ vị luận).

3. Ích vị thăng dương thang (Lan thất bí tàng, Phụ nhân môn – Lý Đông Viên), thêm : Hoàng cầm sao, Thần khúc.
Công dụng : Ích khí, thăng dương, dưỡng huyết, điều kinh.
Chủ trị : Kinh nguyệt không đều, hoặc sau khi mất máu, ăn ít, băng lậu, huyết ra rỉ rả, tiêu chảy. Dược : Hoàng kỳ nướng 15g, Nhân sâm,Hoàng cầmThần khúcCam thảo nướng đều 10g, Bạch truật sao, Đương quyTrần bì đều 5g, Sài hồThăng ma đều 4g. Tán. Ngày uống 12-16g với nước sắc Sinh khươngĐại táo.

4. Điều trung ích khí thang (Lan thất bí tàng, Ẩm thực lao quyện môn – Lý Đông Viên), bỏ : Bạch truậtĐương quy; thêm : Mộc hương,Thương truật.
Chủ trị : Tỳ vị không đều, ngực đầy, tay chân mỏi, ít ăn, thiếu hơi, ăn không ngon, ăn vào hay nôn.
Dược : Hoàng kỳ 15g, Nhân sâm, Chích Cam thảo đều 10g, Thương truậtTrần bì đều 5g, Mộc hươngSài hồThăng ma đều 2g, Đại táo5 quả, Sinh khương 3 lát.

5. Điều trung bổ khí thang (Lý Đông Viên), thêm : Bạch thượcNgũ vị tử.

6.Bổ trung gia hoàng bá địa hoàng thang (Tuyên minh luận – Lưu Hà Gian), thêm : Hoàng báSinh địa.
Chủ trị : Chứng âm hoả, sốt ngày nặng hơn đêm, tự ra mồ hôi, hơi thở ngắn, biếng ăn.
Dược : Bạch truậtHoàng kỳ đều 18g, Nhân sâmĐương quyThăng ma đều 12g, Sinh địa 9g, Sài hồHoàng báCam thảo đều 6g, Trần bì 8g. Sắc uống.

7.Thuận khí hoà trung thang (Vệ sinh bảo giám, quyển 9 – La Thiên Ích), thêm : Bạch thượcTế tânXuyên khungMạn kinh tử.
Chủ trị : Thanh dương không thăng, phần khí bị hư, đau đầu.
Dược : Hoàng kỳ 15g, Nhân sâm, Chích Cam thảo đều 10g, Bạch truậtBạch thượcĐương quyTrần bì đều 5g, Sài hồThăng ma,Xuyên khungMạn kinh tửTế tân đều 2g, Đại táo 4 quả, Sinh khương 3 lát. Sắc uống.

8. Điều vinh dưỡng vệ thang (Đông Viên thập thư – Lý Đông Viên), thêm : Khương hoạtPhòng phongTế tânXuyên khung.
Chủ trị : Lao lực và thương hàn, nhức đầu, gai rét, khát, ra mồ hôi, mạch phù không lực.
Dược : Hoàng kỳ, Chích Cam thảo đều 10g, Nhân sâmBạch truậtKhương hoạtĐương quy thân, Xuyên khungTrần bì đều 5g, Sài hồ,Thăng maPhòng phongTế tân đều 2g, Đại táo 5 quả, Sinh khương 3 lát. Sắc uống.

Ý kiến của Hải thượng Lãn Ông về Bổ trung ích khí thang :
1.“Lãn tôi xét : Bài thuốc Bổ trung ích khí thang do ông Lý Đông Viên đặt ra, mục đích để điều trị chứng dương hư phát sốt, và người vốn hư mà lại bị cảm mạo, nội thương kèm với ngoại cảm, v.v… . Dương hư thì hãm xuống, tà khí liền thừa hư mà vào, cho nên chủ chốt bài này là ’thăng đề dương khí’, khiến cho trung khí mạnh lên thì tà sẽ không cần đánh mà tự lui … . Bài thuốc này không phải có tác dụng bổ khí huyết, cũng không phải là bài thuốc có thể uống lâu ngày, khá tiếc là có nhiều người không chịu xét rõ âm dương hư thực và nội thương ngoại cảm … hễ thấy phát sốt là dùng ngay bài Bổ trung ích khí và tự cho là ổn, thật là quá sai lầm ! Xem nội dung bài thuốc thì : Bạch truật bổ dương khí của vị; Nhân sâmHoàng kỳ bổ tỳ mà kiêm bổ phế; Đương quy bổ âm huyết của tỳ khiến cho thổ đầy đủ đức khôn nhu mới có thể sinh ra được mọi vật; Chích thảo có tác dụng ôn trung và làm điều hoà các vị thuốc kia cho trung châu được nhờ sự bổ ích; lại e tính của các vị thuốc bổ phần nhiều nê trệ, cho nên lại dùng Trần bì cho nó dẫn; thêm ít ThăngSài làm sứ, một mặt để dẫn cái sức của Sâm Kỳ, đồng thời cũng làm cho khí dương hạ hãm được thăng lên. Nếu dùng bài Bổ trung ích khí mà lại bỏ 2 vịThăngSài thì thật là không hiểu rõ ý nghĩa của bài Bổ trung ích khí thang. (Huyền tẫn phát vi – Hải Thượng Lãn Ông)

2.“Nghĩ như tiên thiên với hậu thiên không thể chia rẽ làm hai đường, nguyên khí ở thượng tiêu mà bất túc là do hãm xuống ở trong thận, cần phải dẫn nó lên từ dưới bộ phận chí âm. Hạ tiêu chân âm bất túc là do nó bay bổng lên bộ phận trên, lại không dẫn nó trở về nguồn được sao ? Vì lý do đó, bài Bổ trung ích khí với bài Thận khí hoàn rất nên cùng sử dụng. Uống buổi sáng để bổ dương, uống buổi tối để bổ âm, cùng nương tựa để cùng bồi dưỡng”. (Huyền tẫn phát vi – Hải Thượng Lãn Ông)

3.“Tạng tỳ không hoá được thức ăn nên trong bụng đầy. Khí của tạng ấy không vận hoá được thì ngưng trệ mà thành đờm. Bốn chân tay thuộc tạng tỳ, dương của tạng tỳ chủ về khí, âm của tạng tỳ chủ về huyết, khí huyết không chu lưu đều nên đầu ngón chân tay tê. Chứng tê ấy không nên dùng các vị Chỉ xácSơn traMạch nhaThần khúc mà nên dùng bài Bổ trung ích khí thêm Bán hạPhục linh rất thần hiệu”. (Châu ngọc cách ngôn – Hải Thượng Lãn Ông)

4.Dương khí ở hạ tiêu tức là khí của dạ dày và hậu thiên, dương vốn thăng nếu yếu thì giáng, nên dùng bài Bổ trung ích khí để đem dương khí trở lên”. (Châu ngọc cách ngôn – Hải Thượng Lãn Ông)

(Sưu tầm)

 

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: