Tam thất – Vị thuốc quý

Cây Tam thất

Cây Tam thất

PanaxNotoginsengPhoto07

Hoa Tam thất tươi

Hoa Tam thất tươi

Tam thất là rễ của cây tam thất, còn gọi là sâm tam thất. Trước đây được coi như vị thuốc “giả nhân sâm”,  ý nói có thể thay nhân sâm. Chính vì vậy mà ngay tên khoa học của nó cũng phản ánh được điều này: Panax pseudo ginseng Wall. Ở đây từ Panax mang ý nghĩa tên “chi” của nhân sâm (về phân loại thực vật), xuất phát từ tiếng Hy Lạp Panacen, tức là chữa được rất nhiều loại bệnh. Còn pseudo, có nghĩa là giả và ginseng là phiên âm từ nhân sâm. Ngày nay tên khoa học của tam thất là Panax Notoginseng (Bark.) F.H. Chen, họ nhân sâm Araliaceae (ngũ gia bì). Trong Đông y, tam thất còn được gọi là “kim bất hoán”, “kim”, tức là vàng, bất hoán, là không đổi được; có nghĩa là vị thuốc tam thất rất quý, đến mức có vàng cũng không thể đổi được.

 tamthat(close)

Củ Tam thất

Củ Tam thất

Tác dụng sinh học của tam thất

Tam thất có tác dụng tăng lực rất tốt, tác dụng này giống với tác dụng của nhân sâm; rút ngắn thời gian đông máu; tiêu máu ứ và tăng lưu lượng máu ở động mạch vành của động vật thí nghiệm. Làm tăng sức co bóp cơ tim ở liều thấp; tác dụng kích dục, đối với chức năng nội tiết sinh dục nữ, thể hiện ở các hoạt tính oestrogen và hướng sinh dục; giãn mạch ngoại vi và không ảnh hưởng đến huyết áp và hệ thần kinh trung ương; điều hòa miễn dịch; kích thích tâm thần, chống trầm uất.

 

Hoa Tam thất khô

Hoa Tam thất khô

Tại sao tam thất lại tác dụng tốt như vậy?

Tam thất cũng chứa các hợp chất giống như nhân sâm. Các bộ phận của cây như rễ con, lá, hoa tam thất đều chứa các hợp chất saponosid nhóm dammaran. Ngoài ra còn phải kể đến các thành phần có giá trị khác như các acid amin, các chất polyacetylen và panaxytriol…

 

Quả Tam thất

Quả Tam thất

Tính đa dạng trong sử dụng tam thất

Trong Đông y, tam thất được xếp vào loại đầu vị của nhóm chỉ huyết (cầm máu). Khi nhấm có vị đắng nhẹ, hơi ngọt và để lại dư vị đặc trưng của nhân sâm. Để dễ phân biệt, tiền nhân có câu nói về vị của tam thất: “Tiền khổ, hậu cam, hậu cam cam”. Nghĩa là khi nhấm, lúc đầu thấy vị đắng, sau thấy ngọt và càng về sau càng thấy ngọt. Trên thực tế, tam thất được sử dụng rất đa dạng. Như ta đã biết, tam thất thuộc vào dòng nhân sâm nên có tác dụng bổ, song lại có phần khác với nhân sâm là tam thất lại theo hướng tác dụng vào phần âm huyết là chính. Tuy nhiên từ trước đến nay, tam thất vẫn là vị thuốc được sử dụng chính để cầm máu, tiêu máu cục và bổ máu. Cầm máu vẫn là tác dụng được ưu tiên của tam thất. Với 3 tác dụng trên, đối tượng được quan tâm sử dụng nhiều nhất của tam thất vẫn là phụ nữ sau khi sinh, vì thuốc có tác dụng chữa chảy máu, máu tụ và thiếu máu. Để tăng thêm ý nghĩa bổ, tam thất thường được sử dụng dưới dạng tần gà. Tam thất được dùng để cầm máu khi xuất huyết bên trong như rong kinh, băng huyết, chảy máu cam, ho ra máu, thổ huyết, trĩ xuất huyết… hoặc thiếu máu gây hoa mắt, chóng mặt, da dẻ xanh xao… Có thể sử dụng dưới dạng uống (thuốc hãm, bột thuốc). Với chảy máu bên ngoài như chấn thương, bị thương chảy máu có thể dùng bột tam thất rắc vào vết thương rồi băng lại.

Cần chú ý thêm rằng, đối với trường hợp làm tiêu máu tụ, chỉ nên sử dụng tam thất khi triệu chứng xuất huyết mới xảy ra. Ví dụ xuất huyết tiền phòng ở mắt, dùng tam thất lúc này rất tốt. Nếu trong mạch máu hoặc trong tim đã có các cục máu đông, không nên dùng tam thất nữa. Nếu dùng, cục máu này sẽ là trung tâm để kết tụ, làm cho cục máu to dần lên, ảnh hưởng đến sự lưu thông của mạch máu, đôi khi gây ra đột quỵ. Ngày nay, tam thất còn được dùng để trị các  bệnh  u xơ, u cục…, cho kết quả khá tốt, tuy nhiên không phải là tất cả. Ngoài ra còn dùng tam thất kết hợp với một số vị thuốc khác, như đan sâm để trị bệnh đau thắt ngực do xơ vữa động mạch vành, hoặc lưu lượng huyết quản giảm, hoặc sau tai biến mạch máu não…

 

Những cây mang danh tam thất

Do tam thất có nhiều tác dụng tốt nên trên thực tế, người ta đã dùng nhiều vị thuốc “giả danh” tam thất. Do vậy, khi sử dụng vị thuốc quý này, cần biết những vị thuốc thường được dùng dưới tên gọi là tam thất, song không có những tác dụng như vị tam thất đã giới thiệu.

 

Tam thất gừng  Stablianthus thorelli Gagnep, họ Gừng Zingiberaceae.

Cây này có hình thái thực vật giống cây nghệ, lá có mùi nghệ, được trồng nhiều ở Ba Vì. Ở mỗi gốc nhổ lên có rất nhiều củ nhỏ, có hình tròn dẹt. Trên thị trường đôi khi người ta đánh bóng vỏ rễ bằng một lớp màu đen, khi nhấm có vị đắng, mùi nghệ. Nhiều người đã mua nhầm.

Tam thất gừng

Tam thất gừng

Tam thất gừng (Tam thất Nam)

Tam thất gừng (Tam thất Nam)

 

Thổ tam thất Gynura pinnatifida L., tên đồng danh Gynura segetum (Lour.) Merr, G. japonica (Thunb.) Juel., họ cúc Asteraceae. Cây này thường trồng ở Hải Dương, Hưng Yên với tên bạch truật nam, cũng được gọi là tam thất.

 

Cây Thổ Tam thất

Cây Thổ Tam thất

Thổ Tam thất

Thổ Tam thất

(GS.TS. Phạm Xuân Sinh – SKĐS)

Tam thất (Radix Notoginseng)

Nội dung

  1. Định nghĩa dược liệu 
  2. Đặc điểm thực vật
  3. Thành phần hoá học
  4. Kiểm nghiệm
  5. Tác dụng, công dụng
  6. Ghi chú
  7. Tài liệu tham khảo        

1. Định nghĩa dược liệu

Dược liệu là rễ củ phơi hay sấy khô của cây Tam thất (Panax notoginseng (Burk.) F. H. Chen = Panax pseudo-ginseng Wall var. notoginseng (Burk) Hoo et Tseng), họ Nhân sâm (Araliaceae).

 

2. Đặc điểm thực vật

Cây thảo, sống nhiều năm.  Thân mọc thẳng, cao 30 – 50cm, màu tím tía. Lá kép chân vịt, 3 – 4 cái mọc vòng gồm 5-7 lá chét hình mác, gốc thuôn, đầu có mũi nhọn, mép khía răng, hai mặt có lông cứng ở gân, mặt trên thẫm, mặt dưới nhạt.

Cụm hoa mọc thành tán đơn ở ngọn thân; hoa màu lục vàng nhạt, đài 5 răng ngắn; tràng 5 cánh rộng ở phía dưới, nhị 5; bầu 2 ô. Quả mọng, hình cầu dẹt, khi chín màu đỏ; hạt màu trắng. Mùa hoa: tháng 5-7, mùa quả: tháng 8 – 10. Rễ củ hình con quay.

Tam thất có nguồn gốc ở phía nam Trung Quốc, được đưa vào trồng trọt từ lâu đời, Tam thất có mọc tự nhiên ở vùng Sapa. Loài tam thất hiện nay đang được trồng ở Trung Quốc là Panax notoginseng. Cây đựơc trồng nhiều nhất ở tỉnh Vân Nam Trung Quốc, sau đến Quảng Tây và một số nơi khác ở Ðài Loan, Nhật Bản và Hàn Quốc.

Tam thất là cây thảo đặc biệt ưa bóng và ưa ẩm mát ở vùng núi cao (trên 1500m). Về mùa đông nhiệt độ có thể xuống dưới 00C, nhưng phần thân rễ của Tam thất vẫn tồn tại. Hàng năm vào khoảng tháng 2 -3, từ đầu thân rễ mọc lên chồi thân. Chồi này sinh trưởng rất nhanh, chỉ sau 2-2,5 tháng đã đạt kích thước cực đại, sau đó bắt đầu có hoa quả. Cây trồng đúng quy cách, được chăm sóc tốt tỷ lệ đậu quả cao (khoảng 60%). Sau khi quả chín, toàn bộ phần thân trên mặt đất bắt đầu tàn lụi. Hạt Tam thất có khả năng nảy mầm khỏe, tỷ lệ nảy mầm giảm theo thời gian.

Tam thất thường được trồng ít nhất 5 năm mới được thu hoạch, càng để lâu càng tốt. Cần thu vào lúc cây bắt đầu ra hoa. Củ đào về bỏ rễ, rửa sạch đất, phơi gần khô, cho vào bao tải lăn hoặc xoa tay cho nhẵn vỏ, sau đó lại đem phơi đến khô. Năng suất trung bình 500-700kg củ khô/ ha.

3. Thành phần hoá học

Thành phần hoá học chính của Tam thất là các saponin thuộc nhóm dammaran mà phần aglycon cũng là 2 chất 20(S) protopanaxadiol và 20(S) protopanaxatriol như ở Nhân sâm. Các saponin thường gặp trong rễ củ là:

a. Các saponin có phần aglycon là 20(S) protopanaxadiol:

G-Rb1, G-Rb2, G-Rd, Gy-XVII, N-R4, N-Fa.

b. Các Saponin có phần aglycon là 20(S) protopanaxatriol:

G-Re, G-Rg1, G-Rg2, G-Rh1, 20Glc-G-Rf, N-R1, N-R2, N-R3, N-R6.

Trong số các saponin trên, G-Rb1 có hàm lượng 1,8% và G-Rg1 1,9% còn G-Rb2 và G-Rc thì rất thấp.

(Chú thích: G= Gingsenosid, Gy: gypenosid, N= notoginsenosid)

Các bộ phận khác của cây như rễ con, lá hoa đều có saponin nhóm dammaran.

4. Kiểm nghiệm

4.1. Ðặc điểm dược liệu

Rễ củ có hình con quay hoặc hình trụ, dài 2- 4 cm, rộng 1-2,5 cm. Mặt ngoài màu vàng tro, nhẵn bóng, có nhiều nếp nhăn dọc, trên thân củ có mang những củ nhỏ và còn vết tích của rễ con sót lại (Ảnh vị thuốc Tam thất). Mặt cắt ngang nhìn rõ hình tia toả tròn của mạch gỗ.

 

4.2. Đặc điểm vi học

Ðặc điểm vi phẫu

Mặt cắt có hình chữ nhật. Từ ngoài vào trong có: Lớp bần cấu tạo bởi 4-5 hàng tế bào hình chữ nhật. Mô mềm là những tế bào thành mỏng, các tế bào bên ngoài bị ép bẹp. Libe rất phát triển kéo dài gần sát bần, rải rác trong libe có các ống tiết, túi tiết xếp dọc từ ngoài vào trong. Tầng phát sinh libe-gỗ gồm vài hàng tế bào xếp thành vòng tròn liên tục. Gỗ gồm những mạch gỗ xếp thành hàng nằm trong mô mềm gỗ không hoá gỗ. Mô mềm ruột là những tế bào hình nhiều cạnh, kích thước tương đối lớn xếp lộn xộn (Vi phẫu rễ củ Tam thất).

 

Ðặc điểm bột dược liệu

Bột có màu vàng nhạt, mùi đặc trưng, vị đắng sau ngọt. Soi dưới kính hiển vi thấy: Mảnh bần gồm nhiều tế bào hình chữ nhật có màu nâu (1). Mảnh mô mềm là những tế bào hình đa giác đôi khi có mang các hạt tinh bột (2). Hạt tinh bột hình tròn, đa số là hình khối nhiều mặt, đường kính từ 0,005-0,017 mm, hạt tinh bột đơn, hoặc kép 2,3,4… thường tập trung thành khối (3). Mảnh mạch vạch (4). Mảnh mô mang túi tiết (5) (Một số đặc điểm bột Tam thất).

 

Hoa, quả Tam thất cũng được dùng dưới dạng trà thuốc công dụng như Tam thất, dùng riêng hay phối hợp với một số loài cây cỏ khác. Dược liệu dưới dạng các cụm hoa, quả. Vi phẫu cuống hoa , các đặc điểm bột hoa cũng được giới thiệu dưới đây để tham khảo. (Hoa Tam thất), (Quả Tam thất), (Vi phẫu cuống hoa Tam thất), (Một số đặc điểm bột hoa Tam thất)

 

4.3. Hoá học

A. Ðặt một ít bột dược liệu trên khay sứ, nhỏ 1 – 2 giọt acid acetic băng và 1 – 2 giọt acid sulfuric đậm đặc  sẽ xuất hiện màu đỏ, để yên màu đỏ sẽ sẫm dần lại.

 

B. Bột dược liệu, chiết bằng ethanol 70%  đun trên cách thuỷ, lọc. Lấy khoảng 1 ml dịch lọc pha loãng với nước cất thành 10 ml. Lắc mạnh 15 giây, có bọt bền.

 

C. Phương pháp sắc ký lớp mỏng (Sắc ký lớp mỏng):

Tiến hành với bản mỏng Silicagel G đã được hoạt hoá ở 105oC trong 1 giờ và dung môi khai triển là hỗn hợp cloroform – ethyl acetat – methanol – nước (15: 40: 22: 10) lắc đều, để lắng, gạn lấy lớp dưới.

Dung dịch thử: Bột dược liệu, thêm nước, thêm n – butanol đã bão hoà nước, lắc đều, để yên trong 2 giờ. Lọc lấy dịch chiết butanol cho vào bình gạn. Thêm vào bình gạn nước đã bão hoà butanol, lắc kỹ, để yên cho tách lớp. Gạn lấy lớp butanol, cô trên cách thuỷ đến cạn. Hoà tan cắn trong 1 ml methanol.

Dung dịch đối chiếu: Bột Tam thất chuẩn, tiến hành như với dung dịch thử.

Cách tiến hành: Chấm lên bản mỏng các dung dịch trên. Sau khi triển khai sắc ký được khoảng 12 – 14 cm, lấy bản mỏng ra, để khô ở nhiệt độ phòng, phun dung dịch acid sulfuric 10 % trong ethanol, sấy ở 120oC cho đến khi xuất hiện rõ vết.

Các vết trên sắc ký đồ của dung dịch thử phải có màu sắc và giá trị Rf giống các vết trên sắc ký đồ của dung dịch đối chiếu.

Có thể sử dụng sắc ký lớp mỏng hiệu năng cao (HPTLC) để kiểm nghiệm Tam thất. (Xem:  Sắc ký đồ dịch chiết các dược liệu chứa saponin – vệt 10 ảnh I, II, III.). Ở Sapa thuộc tỉnh Lào Cai có giống Tam thất lá xẻ, đặc điểm dược liệu và thành phần hoá học không giống với Tam thất trên thị trường (Xem:  Sắc ký đồ dịch chiết các dược liệu chứa saponin – vệt 11 ảnh I, II, III.).

 

5. Tác dụng và công dụng

Trong đông y, Tam thất được coi là vị thuốc có tác dụng làm mất sự ứ huyết, tác dụng cầm máu, giảm viêm, giảm đau.

Dùng chữa trị các trường hợp: ho ra máu, nôn ra máu, chảy máu cam, đại tiện ra máu, tử cung xuất huyết, chấn thương.

Ngoài ra Tam thất cũng được coi là một vị thuốc bổ như Nhân sâm rất hay được dùng cho phụ nữ sau khi sinh nở. Tam thất được áp dụng trong điều trị nhãn khoa có tác dụng tiêu máu tốt.

Phụ nữ đang mang thai không nên dùng

Công dụng

Tam thất được dùng để chứa thổ huyết, ho ra máu, chảy máu cam, băng huyết, rong kinh, sau khi đẻ huyết hôi không ra, ứ trệ đau bụng, kiết kị ra máu, đi tiểu ra máu, có tác dụng hoạt huyết, làm tan ứ huyết, chữa sưng tấy, thiếu máu, người mệt mỏi, hoa mắt, chóng mặt, nhức đầu, ít ngủ, vết thương chảy máu.

Ngày uống 4- 6g, dạng thuốc bột hoặc thuốc sắc. Dùng ngoài giã đắp hoặc rắc thuốc bột để cầm máu. Thân cây và lá Tam thất cũng được dùng làm chè hãm hoặc nấu cao uống.

6. Ghi chú

Tên khác: Kim bất hoán, Sâm tam thất, Nhân sâm tam thất, Tứ thất, Sơn thất, Ðiền thất, Hạn tam thất.

Chi Panax hiện được biết có khoảng 14 loài trồng và mọc hoang, một số loài trong chi đã được phát hiện dùng để thay thế Tam thất như: Tam thất hoang còn gọi Tam thất lá xẻ, Vũ diệp tam thất, Sâm vũ diệp (Panax bipinnatifidus Seem = Panax japonicus C.A.Mey.var. bipinnatifidus (Seem) C.Y.Wu et Feng ex C. Chow et al.) cũng có thành phần hoá học chứa Saponin.

Theo một số tài liệu có các loài sau thường hay được dùng để thay thế hoặc giả mạo Tam thất [30]:

– Thân rễ khô của cây Trúc tiết sâm (Panax japonicum C.A.Mey.) họ Nhân sâm (Araliaceae).

– Thân rễ của cây Chu tử sâm hay còn gọi là Chu sâm, Thổ tam sâm, Ngật đáp thất, Khấu tử thất (Panax japonicum C.A.Mey. var. major (Burk) C.Y.Wu et K.M.Freng), họ Nhân sâm (Araliaceae).

– Toàn cây, thân rễ hoặc rễ của cây Thiên tam thất (Sedum aizoon L.), họ Thuốc bỏng (Crassulaceae). Cây này có ở Giang Tô, Triết Giang.

– Thân rễ khô đã qua chế biến của cây Curcuma Kwangsiensis S.Lee et C.F.Liang; Curcuma wenyujin Y.H.Chen et C.Ling; Curcuma zedoaria Rosc., thuộc họ Gừng (Zingiberaceae).

– Thân đã qua chế biến của cây Bạch cập (Bletilla striata (Thb.) Reichb. f.) họ Lan (Orchidaceae).

– Cây Chu nha khô hay Ðằng tam thất (Boussingaultia gracilis Miers var. pseudo-baselloides Bailey), họ Mồng tơi (Basellaceae).

ở nước ta có một số dược liệu mang tên Tam thất được dùng để giả mạo, thay thế Tam thất (xem: Tam thất gừngThổ tam thất)

– Tam thất còn được gọi với các tên khác như: Kim bất hoán, Sâm tam thất, Nhân sâm tam thất, Tứ thất, Sơn thất, Ðiền thất, Hạn tam thất.

– Tam thất được trồng và chế biến chủ yếu ở tỉnh Vân Nam, Quảng Tây Trung Quốc. ở nước ta cây được trồng từ lâu ở một số vùng núi 1.200 – 1.500m như Hà Giang, Lào Cai, Cao Bằng.

7. Tài liệu tham khảo

Bài giảng Dược liệu Tập I – 1998. Tr.

Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt nam Tập II. – NXB khoa học và kỹ thuật – 2004. Tr. 775-780

Dược điển Việt Nam III. Tr. 462-463.

Đỗ Tất Lợi – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – NXB Y học – 2003. Tr. 289-291

Nguyễn Viết Thân – Kiểm nghiệm dược liệu bằng phương pháp hiển vi Tập I- NXB khoa học và kỹ thuật- 2003. Tr.210-213.

阎文玫, 中药材真伪鉴定,人民卫生出版社-1994 (16-22)

中国中药材真伪鉴别图典, 广东科技出版社-1995

中药鉴别学, 上海人民出版社-1974

 

(Duoclieu.net)

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: