Bệnh lây truyền qua đường tình dục

Bệnh lây truyền qua đường tình dục (Sexually Transmitted Diseases – STDs) là các hội chứng lâm sàng gây ra bởi những tác nhân gây bệnh có thể mắc phải và lây truyền do các hoạt động tình dục bao gồm giao hợp qua âm đạo, quan hệ tình dục bằng miệng lưỡi hay qua hậu môn.

 

Nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục (Sexually Transmitted Infections – STIs) là thuật ngữ bao quát hơn vì người nhiễm các tác nhân gây bệnh có thể không có triệu chứng nhưng có nguy cơ lây bệnh cho người khác.

Thầy thuốc và các chương trình chăm sóc sức khỏe đóng vai trò rất quan trọng trong việc điều trị và phòng ngừa STIs. Trước đây, các STIs nói chung không chữa được và việc điều trị chỉ giới hạn ở các triệu chứng. Ngày nay, với sự phát triển của kháng sinh, một số lớn các bệnh lây truyền qua đường tình dục đã có thể được điều trị khỏi. Điều này, kết hợp với các chiến dịch chăm sóc sức khỏe hiệu quả, đã góp phần làm giảm mối đe dọa y tế nghiêm trọng của STIs.

Sử dụng bao cao su đúng cách để phòng ngừa các bệnh lây truyền qua đường tình dục

 

Nguyên nhân gây các bệnh lây truyền qua đường tình dục

Bệnh do vi khuẩn: Hạ cam mềm; Chlamydia (Chlamydia trachomatis), u hạt bẹn, bệnh lậu, giang mai, bệnh do vi nấm cạn, dermatophytes, candida.

Bệnh do virus: Herpes sinh dục, Viêm gan siêu vi B, Bệnh sùi mào gà do HPV, U mềm lây, HIV/AIDS.

Bệnh do ký sinh trùng: Rận mu, cái ghẻ, trùng roi âm đạo.

STIs dễ dàng lây nhiễm qua niêm mạc dương vật, âm hộ, trực tràng, đường tiểu khi quan hệ tình dục. Một số đường lây khác ít phổ biến hơn như: miệng, họng, đường hô hấp, mắt, đường máu. Niêm mạc có thể cho phép một số tác nhân gây bệnh xâm nhập trực tiếp vào cơ thể. Dương vật đặc biệt dễ bị tổn thương do ma sát trong quá trình quan hệ tình dục. Các tác nhân gây bệnh cũng có thể xâm nhập cơ thể qua những chỗ da bị tổn thương. Mặc dù miệng cũng có niêm mạc như ở bộ phận sinh dục nhưng sự lây truyền  bệnh thông qua cơ quan sinh dục lại dễ xảy ra hơn qua đường từ miệng sang miệng, qua các nụ hôn. Theo thống kê về tình dục an toàn, nhiều bệnh nhiễm trùng có thể dễ dàng lây truyền từ miệng qua bộ phận sinh dục hoặc từ bộ phận sinh dục qua miệng nhưng việc lây truyền từ miệng sang miệng rất ít xảy ra. Với HIV, chất dịch sinh dục là tác nhân gây bệnh dễ dàng hơn so với nước bọt. Một số bệnh lây qua đường tình dục cũng có thể lây truyền qua tiếp xúc da trực tiếp, ví dụ như: Herpes simplex và HPV. Virus Herpes có thể lây truyền qua nụ hôn sâu hoặc khi nước bọt được sử dụng như một chất bôi trơn tình dục.

Mọi hành vi tình dục có liên quan đến các chất dịch trong cơ thể đều chứa một số nguy cơ lây truyền các bệnh qua đường tình dục. Người ta chỉ chú ý tập trung vào HIV nhưng các bệnh hoa liễu khác cũng tiềm ẩn rất nhiều mối nguy hiểm.

Các chuyên gia y tế nhận thấy tình dục an toàn, chẳng hạn như việc sử dụng bao cao su, là phương pháp đáng tin cậy nhất để giảm nguy cơ mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục. Tuy nhiên, tình dục an toàn cũng không có nghĩa là người tham gia đã có được sự bảo vệ tuyệt đối.

 

Phòng ngừa

Việc phòng ngừa và kiểm soát tình trạng nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục dựa trên năm chiến lược chủ yếu sau:

Giáo dục sức khỏe và tư vấn cho những người có nguy cơ về cách thức phòng tránh nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục thông qua sự thay đổi trong hành vi tính dục và sử dụng các biện pháp dự phòng được khuyến cáo;

Xác định người bị STIs không triệu chứng và những người mắc bệnh nhưng không được chẩn đoán và điều trị;

Chẩn đoán, điều trị và tư vấn hiệu quả cho người nhiễm STDs;

Đánh giá, điều trị và tư vấn cho đối tác tình dục của người bị nhiễm STDs;

Tiêm phòng vaccine ngăn ngừa nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục, đối với các bệnh đã có vaccine, cho người có nguy cơ trước khi tiếp xúc.

Phòng ngừa là biện pháp chính đối với các bệnh lây qua đường tình dục không chữa được, chẳng hạn như HIV và Herpes sinh dục. Cách hiệu quả nhất để ngăn ngừa lây truyền là tránh tiếp xúc trực tiếp với các bộ phận cơ thể hoặc chất dịch có thể mang mầm bệnh. Việc sử dụng bao cao su thích hợp giúp làm giảm tiếp xúc và nguy cơ lây bệnh. Tuy nhiên, một số STDs vẫn có thể lây truyền được ngay cả khi dùng bao cao su.

Lý tưởng nhất là cả hai đối tác tính dục đều nhận được xét nghiệm kiểm tra STDs trước khi bắt đầu quan hệ tình dục. Lưu  ý nhiều bệnh không phát hiện được ngay lập tức sau khi tiếp xúc với mầm bệnh mà chỉ có thể phát hiện bằng xét nghiệm sau một thời gian phơi nhiễm nhất định.

 

Vaccine

Vaccine có thể bảo vệ chống lại virus lây qua đường tình dục, chẳng hạn như viêm gan siêu vi A, B và một số loại HPV. Nên tiêm phòng trước khi bắt đầu quan hệ tình dục để nhận được sự bảo vệ tối đa.

 

Bao cao su

Bao cao su chỉ có thể bảo vệ như một rào cản tác nhân gây bệnh khi được sử dụng đúng cách. Khu vực cơ quan sinh dục không được che chắn bởi bao cao su vẫn có thể bị lây nhiễm nhiều bệnh. Đối với HIV/AIDS, dương vật được bao bọc đúng cách với bao cao su có hiệu quả tốt để ngăn ngừa mặc dù về mặt lý thuyết, chất dịch sinh dục có thể lây nhiễm HIV cho vùng da bị thương vẫn có thể xảy ra. Điều này đơn giản có thể tránh được bằng cách không tham gia quan hệ tình dục khi có vết thương chảy máu ở cơ quan sinh dục.

Sử dụng bao cao su đúng cách:

Phải sử dụng bao cao su ngay từ lúc bắt đầu quan hệ tình dục cho đến khi kết thúc.

Không mang bao cao su quá chặt ở cuối, chừa lại 1,5 cm ở đầu bao dự phòng cho việc xuất tinh.

Không đeo bao cao su quá rộng so với kích cỡ dương vật.

Không được lật ngược bao cao su để sử dụng.

Không dùng bao cao su được làm bằng các chất không phải là cao su hoặc nhựa tổng hợp. Loại bao cao su này không thể bảo vệ chống lại HIV.

 

(SKĐS – BS. Lê Đức Thọ)

 

Viêm não Nhật Bản – bệnh nguy hiểm nhất với trẻ em

Ảnh

Bệnh có thể xuất hiện rải rác quanh năm, nhưng vào các tháng 5, 6 và 7, tỷ lệ mắc bệnh đặc biệt tăng cao. Trong khi nhiều bậc cha mẹ lại không biết được nguyên nhân cũng như triệu chứng của bệnh. Xin cung cấp tới bạn đọc những hiểu biết cần thiết nhất về căn bệnh nguy hiểm này để các bạn có cách phòng tránh và xử trí kịp thời.

 Viêm não Nhật Bản là bệnh gì?

Đây là một bệnh nhiễm trùng cấp tính gây tổn thương hệ thần kinh trung ương. Virus viêm não Nhật Bản chính là tác nhân gây bệnh. Bệnh gặp chủ yếu ở trẻ em dưới 15 tuổi, đặc biệt nhóm nguy cơ cao nhất là trẻ ở lứa tuổi 2-6 (chiếm 75% tổng số trẻ mắc bệnh).

Phương thức lây truyền

Khởi đầu từ các ổ chứa virus mà lợn là động vật đóng vai trò chính. Khi muỗi hút máu của lợn có chứa virus và sau đó đốt người sẽ truyền virus sang người. Đây là con đường duy nhất khiến lây nhiễm bệnh viêm não Nhật Bản. Cho tới nay chưa thấy có sự lây truyền bệnh từ người sang người.

Cần lưu ý là: Sau khi bị nhiễm virus viêm não Nhật Bản, lợn không bị bệnh, nhưng nguy hiểm ở chỗ nó trở thành kho chứa, duy trì virus trong thiên nhiên, đồng thời lại là nguồn cung ứng quan trọng nhất cho muỗi đưa virus viêm não Nhật Bản lây sang người.

Có nhiều loài muỗi có khả năng truyền bệnh, nhưng chủ yếu vẫn là hai loài muỗi Culex Tritaeniorhynchus và Culex vishnui. Hai loài muỗi này thường sống ở ruộng lúa nước và chập choạng tối sẽ bay đến nơi có người và súc vật sinh sống để hút máu.

fdfviem-nao-nhat-ban

Biểu hiện của bệnh

Bệnh khởi đầu với biểu hiện sốt và thường là sốt rất cao (39-40oC). Người bệnh còn có các biểu hiện kèm theo như rét run, đau đầu, mệt lả, buồn nôn hoặc nôn. Giai đoạn này kéo dài từ 1 đến 6 ngày. Tiếp đến là các biểu hiện rất điển hình như tiếp tục sốt cao kèm co giật, rối loạn ý thức, kích thích, vật vã, ngủ gà, lơ mơ, hôn mê rồi đau đầu, cứng gáy, tay chân quờ quạng, mất nước.

Hậu quả nặng nề

Viêm não Nhật Bản là một trong những bệnh để lại di chứng đặc biệt nặng nề. Bệnh gây tử vong cao (10-20%) hoặc di chứng thần kinh lớn như động kinh, giảm học lực, đần độn, liệt, thất ngôn. Các di chứng thần kinh như vậy thường chiếm hơn 50% người bị mắc bệnh, thường gây tàn phế, mất khả năng lao động, để lại gánh nặng cho gia đình và xã hội.

Hướng xử trí

Nguyên tắc buộc phải tuân thủ là tất cả các bệnh nhân viêm não Nhật Bản đều phải được điều trị tại bệnh viện. Trong khi chờ đợi, trẻ sốt cao phải được uống thuốc hạ sốt như Paracetamon, liều 15mg/kg cân nặng/lần, tối đa uống 4 lần/ngày. Có thể phối hợp chườm khăn mát ở trán và bẹn, chú ý tuyệt đối không chườm đá lạnh.

Trẻ phải được đưa đến bệnh viện hay cơ sở y tế gần nhất ngay lập tức nếu sốt cao quá 12 giờ liên tục hoặc có các dấu hiệu như nôn vọt, cứng gáy, rối loạn ý thức…

Việc đưa trẻ tới bệnh viện và được xử lý kịp thời sẽ giảm thiểu tối đa các di chứng của bệnh viêm não Nhật Bản, nhưng nếu không thì khả năng tàn phế suốt đời là vô cùng lớn. Vì vậy, việc phòng bệnh sẽ là giải pháp tối ưu hơn cả.

Trước hết, cần vệ sinh môi trường sạch sẽ, thoáng đãng. Loại bỏ các ổ nước tù đọng quanh nơi sinh hoạt, diệt bọ gậy để muỗi không có điều kiện sinh sôi. Nếu gia đình có khu vực chuồng trại chăn nuôi thì cần được vệ sinh thường xuyên. Khi ngủ phải nằm màn, ngoài ra cần phun thuốc diệt muỗi.

Nhưng biện pháp phòng bệnh hữu hiệu nhất là tiêm văcxin phòng viêm não Nhật Bản nhằm tạo miễn dịch chủ động. Liệu trình tiêm phòng cần đủ 3 liều: 2 mũi đầu cách nhau 1-2 tuần, mũi thứ 3 nhắc lại sau 1 năm. Văcxin viêm não Nhật Bản bắt đầu tiêm khi trẻ được 1 tuổi.

Các phản ứng nhẹ sau tiêm có thể là sưng đỏ tại chỗ, đau, sốt, nhức đầu. Các dấu hiệu này sẽ tự hết nhiều nhất sau vài ngày. Hầu như các phản ứng phụ nặng nề là rất hiếm gặp. Trẻ cần được tiêm chủng đúng lịch trình vì nếu không hiệu lực của văcxin, khả năng tạo miễn dịch của trẻ sẽ giảm, đôi khi còn mất tác dụng.

Mọi lý do tạm hoãn tiêm chủng đều phải có ý kiến của bác sĩ, thông thường chống chỉ định tiêm văcxin khi trẻ sốt cao, loạn dưỡng nặng, đang bị tim mạch, thận, gan giai đoạn cấp tính, đang tiến triển, trẻ quá mẫn cảm hoặc dị ứng với văcxin.

Viêm não Nhật Bản được biết đến từ năm 1871, nhưng mãi tới năm 1935 mới được phân lập từ người bệnh ở Tokyo (Nhật Bản). Sau đó, bệnh hoành hành và gây dịch tại các đảo phía Tây Thái Bình Dương, các nước Bắc Á, Đông Nam Á… trong đó có Việt Nam.Ở Việt Nam, trong những năm 80 và đầu thập kỷ 90, tỷ lệ mắc bệnh khá cao (7/100.000 dân). Nhưng từ năm 1993, nhất là từ năm 1997, khi văcxin viêm não Nhật Bản được đưa vào dự án Tiêm chủng mở rộng cho trẻ em lứa tuổi 1-5, tỷ lệ mắc bệnh đã giảm đáng kể.

KIỀU NGA
(Với sự cố vấn và hỗ trợ thông tin của Bác sĩ Nhi khoa Nguyễn Trung Hà, Bệnh viện Việt Pháp, Hà Nội)

Viêm não Nhật Bản

Viêm não Nhật Bản là gì?

Viêm não Nhật Bản là một bệnh do virus gây ra, có thể gây bệnh nặng cho người, lây truyền từ một số loài động vật( chim, động vật hữu nhũ, đặc biệt là heo).

Bệnh lây truyền do muỗi có tên là muỗi Culex, là một vật trung gian truyền bệnh rất rộng rãi. Loài muỗi này chủ yếu đót người vào ban đêm: khi đó muỗi sẽ làm lây truyền virus sang người, virus này thuộc họ flavivirus.

Tại sao lại gọi là viêm não “Nhật Bản” ? Bởi vì chính tại nước Nhật người ta đã phát hiện ra trường hợp viêm não đầu tiên do tác nhân này.

Bệnh này hay hoành hành ở đâu?

Viêm não Nhật Bản là nguyên nhân hàng đầu gây viêm não ở Châu Á. Trên bản đồ dịch tể, viêm não Nhật Bản hoành hành ở hai vùng- vùng có khí hậu ôn hoà ( Ôn đới) ở phía Bắc (Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc, Trung Quốc, Népal, Bắc Ấn Độ, miền Bắc Việt Nam và miền Bắc Thái Lan ), những trận dịch lớn thường xảy ra vào mùa hè, từ tháng 5 đến tháng 10.Vùng có khí hậu nhiệt đới Nam Á (Indonesia, Malaysia, Philippines, Sri Lanka, miền nam Ấn Độ, miền Nam Thái Lan và Việt Nam), dịch bệnh thường xuất hiện quanh năm, bệnh bắt đầu tăng vào đầu mùa mưa .

Nguy cơ nhiễm bệnh rất phong phú:

Lúc chạng vạng tối , thời điểm muỗi Culex hay đốt người
Nguy cơ này tăng vào suốt mùa mưa
Ở vùng nông thôn thường xảy ra hơn thành thị
Thường xảy ra ở những vùng trồng trọt và chăn nuôi( nuôi heo)
Bệnh cũng thay đổi theo cao độ, muỗi không thể sinh sản được khi lên độ cao trên 2000-3000 m

Bệnh thường gặp ở dân bản địa sống trong vùng dịch tể, vì trong một số quốc gia này, hầu hết những người trưởng thành đều được miễn dịch. Những trường hợp có triệu chứng thường được mô tả ở trẻ em dưới 10 tuổi. Ngược lại, khi dịch mới xuất hiện trong vùng ôn đới thì mọi lứa tuổi đều có thể mắc bệnh

Đối với du khách, nguy cơ nhiễm bệnh viêm não Nhật Bản rất thấp, người ta ước tính chỉ vào khoảng  1/ 1 triệu. Rõ ràng nguy cơ này là rất thay đổi tuỳ theo điều kiện của cuộc du lịch. Tuy nhiên, thậm chí chỉ lưu trú ở những nước Châu Á trong thời gian ngắn ở vùng thành thị hay những vùng ngoại thành, thì nguy cơ này không phải là hoàn toàn không có.Chính điều đó muốn nói lên tầm quan trọng của việc tự bảo vệ tránh muỗi đốt khi có đi du lịch như thế, điều này còn góp phần ngừa bệnh sốt xuất huyết, thậm chí cả bệnh sốt rét nữa.

Bệnh biểu hiện như thế nào ?

Nhiễm virus viêm não Nhật Bản thường không có triệu chứng. Thật ra, người ta ước tính sau khi muỗi mang mầm bệnh đốt người thì chỉ có khoảng 1/250 – 1/1000 người có xuất hiện triệu chứng. Thời gian ủ bệnh trong khoảng 5 đến 15 ngày. Các triệu chứng của bệnh bao gồm: sốt xuất hiện đột ngột, nhức đầu, dấu màng não(cứng gáy, nhức đầu, rối loạn tiêu hoá, mê sảng, vật vả, trẻ em có thể bị hôn mê). Hôn mê có thể xuất hiện, tỉ lệ tử vong của viêm não Nhật Bản là khoảng 30%. Những bệnh nhân khỏi bệnh thì 1/3 là để lại di chứng về thần kinh.Trong trường hợp bệnh nặng thì không có điều trị đặc hiệu nào. Ngược lại, vaccin phòng bệnh được khuyên dùng cho những ai có nguy cơ cao.

Phòng ngừa bệnh này bằng cách nào?

Trước tiên, dù là đi du lịch dưới bất kỳ hình thức nào cũng cần phải bảo vệ tránh muỗi đốt :
– bảo vệ da một cách hiệu quả, nhất là cuối ngày và ban đêm ;
– mặc quần áo dài tay, màu sáng, nếu được thì nên tẩm quần áo bằng perméthrine, mang giày vớ cho kín đáo, nhất là về chiều;
-ngủ mùng có tẩm thuốc diệt côn trùng ;
-giăng mùng ở cửa ra vào, cửa sổ ;
– sử dụng bơm diệt côn trùng, máy điện tử phun thuốc diệt côn trùng ;

Chú ý : một số thuốc thoa ngoài da có chống chỉ định ở phụ nữ đang mang thai.

Chủng ngừa

Chủng ngừa viêm não Nhật Bản hiện có ở những trung tâm nhi khoa lớn và các viện vệ sinh dich tể thuộc Trung ương. (như viện Pasteur TpHCM, Viện vệ sinh dịch tể trung ương, Viện nhi Trung ương, bệnh viện Nhi đồng I, II) và một số phòng khám và bệnh viện tư nhân. Liệu trình chủng ngừa thì lâu dài, đối với những người đi du lịch khi đến những vùng dịch tể cần tiêm trước 1-2 tháng.Tác dụng phụ trầm trọng của chủng ngừa hiếm khi xảy ra. Ngược lại, những phản ứng nhẹ khá thường gặp (sưng chỗ chích, sốt, nhức đầu) .

Phác đồ chủng ngừa : 

– Chích 3 mũi trong một tháng: ngày 0, ngày 7 và ngày thứ 21 ; mũi chích cuối cùng phải trước ngày khởi hành đi du lịch tối thiểu 10 ngày.
– Thuốc có tác dụng bảo vệ trong vòng 10-14 ngày sau khi chích. Vì vậy cần phải lên kế hoạch chích ngừa tối thiểu 40 ngày trước khi khởi hành.
– Nếu thấy cần thiết, người ta có thể tiêm nhắc lại 2 năm sau đó.
– Ở trẻ em từ 1 đến 3 tuổi, người ta cũng tiêm như trên nhưng dùng nửa liều so với trẻ trên 3 tuổi.
– Chống chỉ định chủng ngừa trong trường hợp trẻ có tiền căn bệnh lý thần kinh hay co giật, trẻ dưới 1 tuổi và phụ nữ đang mang thai.

Đối tượng nào cần phải chủng ngừa?

Nghe có vẻ bất hợp lý khi đề nghị chủng ngừa cho tất cả du khách đến vùng  dịch tể. Các chuyên gia còn bàn cải về cách làm này trong khuôn khổ khám sức khoẻ cho người đi du lịch. Những du khách cần phải xem xét có nên chích ngừa viêm não Nhật Bản là:

– Những ai lưu trú lâu dài ở vùng nông thôn, vùng trồng trọt, hay ở trang trại chăn nuôi  trong suốt mùa có dịch;
– Binh lính sống trong vùng có dịch;
– Giáo sĩ, sinh viên, nhà nghiên cứu và những du khách khác mà trong hoạt động nghề nghiệp của họ cần phải sống dài ngày trong vùng dịch trong suốt mùa có nguy cơ ;
– Vận động viên đua xe đạp , và du khách du lịch mạo hiểm khác mà lộ trình đi của họ có những ngày phải lưu trú lại trong vùng dịch ;
– Dân nhập cư từ vùng dịch.

Kết luận, giống như đa số các bệnh vùng nhiệt đới, nguy cơ viêm não Nhật Bản không phải là không có. Vì vậy, phòng tránh muỗi luôn là biện pháp phải thực hiện nghiêm túc. Trừ khi du lịch Châu Á theo các vòng tua cổ điển , việc chích ngừa viêm não Nhật Bản có thể được xem xét . Việc chỉ định phòng ngừa viêm não Nhật Bản phải do các nhà chuyên môn quyết định sau khi đánh giá rõ ràng những nguy cơ cho du khách..

Dược thảo hỗ trợ điều trị viêm não Nhật Bản                      

Trong y học cổ truyền, viêm não Nhật Bản thuộc nhóm ôn bệnh với các triệu chứng sốt cao, co giật, mê sảng, hôn mê, trụy mạch ngoại biên. Việc áp dụng thêm các bài thuốc Đông y có thể làm tăng hiệu quả điều trị của Tây y và giảm bớt di chứng.

Viêm não Nhật Bản là một bệnh truyền nhiễm do virus gây ra, hay xuất hiện về mùa hè. Đây là một bệnh cấp tính, phát bệnh và chuyển biến nhanh chóng; cần điều trị kịp thời để tránh tử vong và di chứng. Bệnh biến chuyển theo các giai đoạn: khởi phát; toàn phát chưa có biến chứng; toàn phát có biến chứng mất nước, nhiễm độc thần kinh, rối loạn thành mạch; hồi phục và di chứng.

Các dược thảo hỗ trợ điều trị viêm não Nhật Bản gồm:
Bạc hà: Có tác dụng kháng khuẩn, làm tăng bài tiết mồ hôi, hạ sốt. Dùng trị ngoại cảm phong nhiệt, phát sốt không ra mồ hôi. Ngày dùng 4-8 g lá hãm uống, phối hợp với các vị khác.
Cam thảo: Có tác dụng an thần, hạ nhiệt và giải độc với các chất độc và độc tố vi khuẩn. Ngày dùng 4-10 g sắc hoặc hãm uống.
Câu đằng: Có tác dụng an thần, thanh nhiệt, chữa kinh giật ở trẻ em. Ngày dùng 12-16 g dạng thuốc sắc.
Câu kỷ: Quả chín phơi khô (câu kỷ tử) có tác dụng tăng cường: khả năng miễn dịch của cơ thể, hoạt động của đại thực bào, hiệu quả của kháng thể, số lượng tế bào có kháng thể hình thành trong mô lách, lượng globulin miễn dịch trong huyết thanh. Vỏ rễ phơi khô (địa cốt bì) có tác dụng hạ sốt, kháng khuẩn và kháng virus cúm. Ngày dùng 6-12 g câu kỷ tử hoặc 9-15 g địa cốt bì, sắc nước uống hoặc dùng dạng hoàn tán.

Dành dành: Có tác dụng an thần, hạ sốt, giảm đau, ức chế tụ cầu vàng và màng não cầu khuẩn, giải độc. Đã được dùng từ lâu để chữa sốt, bồn chồn khó ngủ. Ngày dùng 6-12 g dạng thuốc sắc hoặc hoàn tán.
Hoàng cầm: Có tác dụng kháng khuẩn, kháng virus viêm gan B, chống viêm, chống dị ứng, chống choáng phản vệ gây bởi nội độc tố và chống lại độc tính của một số chất. Được dùng làm thuốc an thần, chống co giật, chữa sốt cao kéo dài, trị rối loạn chức năng hệ thần kinh, động kinh, co giật, mất ngủ. Ngày uống 6-15 g dưới dạng thuốc sắc hoặc bột.
Hoàng liên: Có tác dụng kháng khuẩn và kháng virus cúm, an thần, hạ sốt, được dùng điều trị bệnh nhiễm khuẩn và sốt cao. Ngày uống 3-4 g hoàng liên hoặc 0,4-1 g hoạt chất berberin.
Huyền sâm: Có tác dụng kháng khuẩn, an thần, giải độc, được dùng làm thuốc hạ sốt, chống viêm trong điều trị các chứng sốt nóng, phát ban. Ngày dùng 4-12 g sắc uống.
Kim ngân: Có tác dụng kháng khuẩn, chống choáng phản vệ; được dùng làm thuốc trị sốt, chống dị ứng. Ngày dùng 4-6 g hoa hoặc 10-16 g cành lá sắc uống.
Liên kiều: Liên kiều và các hoạt chất forsythosid có tác dụng kháng khuẩn, chống viêm, hạ sốt. Tinh dầu hạt liên kiều ức chế virus cúm, dùng chữa phong nhiệt, cảm sốt. Ngày dùng 10-20 g, sắc uống.
Lô căn (rễ sậy): Hạ sốt, ra mồ hôi, lợi tiểu; được dùng làm thuốc chữa sốt, sốt cao phát cuồng, bí tiểu tiện. Ngày dùng 8-20 g sắc uống.
Mạch môn: Kháng khuẩn, chống viêm, được dùng làm thuốc chữa sốt cao, mất ngủ. Ngày dùng 6-20 g dạng thuốc sắc.
Nhọ nồi: Kháng khuẩn, kháng virus, chống viêm, chống dị ứng, cầm máu. Được dùng trị một số bệnh nhiễm khuẩn và nhiễm virus. Ngày dùng 12-20 g, sắc uống.
Sinh địa: Điều hòa miễn dịch, chống ôxy hóa, an thần; dùng trị sốt, đặc biệt sốt do nhiễm khuẩn. Ngày dùng 9-15 g, sắc uống.
Thạch xương bồ: Có tác dụng kháng khuẩn, an thần, hạ sốt, giảm đau, chống co giật động kinh, cải thiện sự suy giảm chức năng hệ thần kinh, giải độc. Ngày dùng 3-8 g dạng thuốc sắc hoặc hoàn tán.
Tri mẫu: Có tác dụng kháng khuẩn, hạ sốt, được dùng làm thuốc trị các bệnh sốt và nhiễm khuẩn. Ngày dùng 8-16 g sắc uống.
Điều trị bệnh ở giai đoạn đầu chưa có biến chứng: Trệu chứng gồm sốt, hơi sợ lạnh, có mồ hôi hoặc ít mồ hôi, đau đầu, lơ mơ, gáy hơi cứng, tinh thần tỉnh táo, cơ thể co giật. Dùng một trong các bài:
Thạch cao 40 g; hạt muồng (thảo quyết minh) sống, kim ngân hoa mỗi vị 16 g; chi tử (dành dành), cam thảo nam, cát căn, cỏ nhọ nồi, sinh địa mỗi vị 10 g. Sắc uống ngày một thang.
Thạch cao 40 g; kim ngân hoa, lô căn mỗi vị 16 g; liên kiều, hoàng cầm mỗi vị 12 g, bạc hà 8 g. Nếu sốt nặng, buồn nôn, thêm hoắc hương 12 g, hậu phác 6 g. Sắc uống ngày một thang.
Điều trị bệnh ở giai đoạn toàn phát có biến chứng: Có các biến chứng mất nước, rối loạn điện giải, nhiễm độc thần kinh, rối loạn thành mạch. Các triệu chứng gồm sốt cao, nhức đầu, cổ gáy cứng, miệng khát, co giật, hôn mê, lưỡi đỏ, nhịp thở thất thường. Dùng một trong 2 bài thuốc:
Thạch cao 40 g; cam thảo nam, kim ngân mỗi vị 16 g; sinh địa, mạch môn, hoàng đằng, huyền sâm mỗi vị 12 g. Nếu táo bón thêm chút chít 20 g sắc uống ngày một thang.
Thạch cao 40 g; tri mẫu, kim ngân, huyền sâm, sinh địa mỗi vị 16 g; hoàng liên, liên kiều mỗi vị 12 g; cam thảo 4 g. Nếu co giật nhiều, thêm thạch quyết minh (cốt khí muồng) 40 g, câu đằng 20 g, địa long 16 g. Nếu hôn mê, thêm trúc lịch 30 ml. Sắc uống ngày một thang.
Giai đoạn hồi phục và di chứng: Một số bệnh nhân sau khi hết sốt sẽ hồi phục dần dần, một số người do sốt kéo dài lâu ngày nên mất tân dịch, một số có di chứng thần kinh, tinh thần. Các bài thuốc:
Sinh địa, mạch môn, sa sâm, huyền sâm mỗi vị 12 g; a giao 10 g, câu kỷ tử 8 g. Nếu táo nhiều, thêm trúc lịch 30 ml. Nếu mất tân dịch nhiều, tay chân co giật, run, chất lưỡi đỏ khô, thêm quy bản, miết giáp, mẫu lệ mỗi vị 12 g. Bài này chữa tổn thương tân dịch do sốt kéo dài, sốt về chiều, miệng khô, chất lưỡi đỏ.

Bạch thược, sinh địa mỗi vị 12 g; mộc qua, đan sâm, thanh táo, đương quy mỗi vị 8 g, địa long 6 g. Sắc uống ngày một thang, chữa di chứng thần kinh ngoại biên, tay chân co quắp, run.

Mẫu lệ 16 g; quy bản, sinh địa, mạch môn, cốt khí muồng mỗi vị 12 g; sa sâm, địa long mỗi vị 8 g; thạch xương bồ 6 g. Sắc uống ngày một thang, chữa di chứng tinh thần, lú lẫn, không nói, sốt về chiều, lưỡi đỏ.

Địa hoàng 3.000 g; liên nhục, củ mài mỗi vị 2.000 g; mạch môn, long nhãn nhục mỗi vị 1.000 g; tâm sen 500 g. Liên nhục, củ mài tán bột, các vị khác sắc đặc lấy nước, làm thành viên. Ngày uống 16-20 g, chia 2-3 lần. Nếu sốt nhiều, thêm huyền sâm, dành dành. Nếu co giật nhiều, thêm thiên ma, câu đằng. Nếu bệnh nhân còn mê man chưa tỉnh, thêm thạch xương bồ. Bài này chữa di chứng viêm não ở trẻ em.

(Theo BSGĐ)

Đông y hỗ trợ trị viêm não Nhật Bản

(SKDS) – Viêm não Nhật Bản B là một bệnh truyền nhiễm do virut hay xuất hiện về mùa hè (trong tháng 5, 6 dương lịch ở miền Bắc, ở miền Nam xuất hiện quanh năm), là một bệnh cấp, phát bệnh và chuyển biến rất nhanh chóng cần điều trị kịp thời để tránh tử vong và di chứng.

Viêm não Nhật Bản là một bệnh trong ôn bệnh của y học cổ truyền (còn gọi là thử ôn, thử kinh, thử quyết) do thử ôn xâm nhập từ biểu vào lý, đốt ở phần khí và doanh huyết; nhiệt cực sinh phong, tân dịch giảm sinh đàm nếu xuất hiện các chứng sốt cao co giật, mê sảng, đàm làm tắc các khiếu gây hôn mê, chứng nội bế ngoại thoát (truỵ tim mạch ngoại biên).

Bệnh biến chuyển theo các giai đoạn: vệ (khởi phát), khí (toàn phát chưa có biến chứng), doanh huyết (toàn phát có biến chứng mất nước, nhiễm độc thần kinh, rối loạn thành mạch) và thương âm, thấp trở ở kinh lạc (hồi phục và di chứng).

Cây và quả dành dành cho vị thuốc chi tử.

Cây và quả dành dành cho vị thuốc chi tử.

Thể vệ, khí:

(giai đoạn khởi phát và toàn phát chưa có biến chứng).

Triệu chứng: sốt, hơi sợ lạnh, có mồ hôi hoặc ít mồ hôi, đau đầu, phiền táo lơ mơ, gáy hơi cứng, tinh thần tỉnh táo, có thể co giật, rêu lưỡi trắng mỏng hoặc vàng.

Bài 1: hạt muồng sống 16g, thạch cao 40g, chi tử 10g, cát căn 10g, ngân hoa 16g, cỏ nhọ nồi 10g, cam thảo nam 10g, sinh địa 10g. Sắc uống ngày 1 thang.

Bài 2 – Ngân kiều thang gia giảm: kim ngân hoa 16g, thạch cao 40g, liên kiều 12g, bạc hà 8g, lô căn 16g, hoàng cầm 12g. Nếu thấp ôn nặng: rêu lưỡi dày trắng, buồn nôn có thể thêm: hoắc hương 12g, bội lan 8g, hậu phác 6g. Sắc uống ngày 1 thang.

Thể doanh huyết: (Giai đoạn toàn phát có biến chứng mất nước điện giải, nhiễm độc thần kinh, rối loạn thành mạch).

Triệu chứng: sốt cao, nhức đầu, cổ gáy cứng, miệng khát, co giật, hôn mê, chất lưỡi đỏ, nhịp thở thất thường, mạch sác đại.

Bài 1: thạch cao 40g, cam thảo đất 16g, sinh địa 12g, huyền sâm 12g, mạch môn 12g, kim ngân 16g, hoàng đằng 12g.

– Nếu táo bón thêm chút chít 20g.

Bài 2: thạch cao 40g, kim ngân 16g, tri mẫu 16g, hoàng liên 12g, cam thảo 4g, sinh địa 16g, liên kiều 12g, huyền sâm 16g. Sắc uống ngày 1 thang.

– Nếu co giật nhiều thêm: thạch quyết minh 40g, địa long 16g, câu đằng 20g.

– Nếu hôn mê, đờm nhiều thêm trúc lịch 30g.

Giai đoạn phục hồi và di chứng

Một số bệnh nhân sau khi sốt lui, hồi phục dần dần; một số bệnh nhân do hiện tượng sốt kéo dài lâu ngày gây tân dịch mất (âm hư); một số bệnh nhân có di chứng thần kinh, tinh thần.

Thể âm hư do sốt kéo dài gây tổn thương tân dịch:

Triệu chứng: sáng nhiệt độ bình thường, chiều hơi sốt, miệng khô, chất lưỡi đỏ, phiền táo, mạch tế sác.

Bài thuốc: sinh địa 12g, huyền sâm 12g, mạch môn 12g, a giao 10g, sa sâm 12g, kỷ tử 8g. Sắc uống ngày 1 thang.

– Nếu phiền táo nhiều, thêm trúc lịch 30g.

– Nếu âm hư nhiều, tay chân co giật, run, chất lưỡi đỏ khô thêm: quy bản 12g, miết giáp 12g, mẫu lệ 12g.

Thể di chứng: Do bệnh tà làm tổn thương đến tạng phủ, khí huyết, kinh mạch phải sử dụng kết hợp các phương pháp xoa bóp, châm cứu và thuốc để chữa.

Di chứng thần kinh ngoại biên: chân tay co quắp, run tay chân… do ứ trở ở kinh lạc, cân mạch không được nuôi dưỡng, dùng các vị thuốc sau: mộc qua 8g, bạch thược 12g, đan sâm 8g, địa long 6g, tần giao 8g, sinh địa 12g, đương quy 8g. Sắc uống ngày 1 thang.

Di chứng tinh thần: tinh thần đần độn, không nói, triều nhiệt, lưỡi đỏ không có rêu, mạch tế sác: quy bản 12g, sa sâm 8g, sinh địa 12g, thạch quyết minh 12g, mẫu lệ 16g, thạch xương bồ 6g, mạch môn 12g, địa long 8g.

Các bài thuốc trên sắc uống ngày 1 thang. Chia uống 3 lần trong ngày sau khi ăn 1 giờ.

(Lương y Vũ Quốc Trung)

Bệnh sốt phát ban là gì?

Triệu chứng và nguyên nhân bệnh sốt phát ban

Sốt phát ban là bệnh thường gặp ở trẻ em, nhưng hiện nay đang lây lan nhanh ở người lớn. Vậy sốt phát ban có những biểu hiện gì? Cần kiêng kị và điều trị như thế nào?

Bệnh sốt phát ban là gì?

Sốt phát ban là bệnh thường gặp ở trẻ em, tuy nhiên cũng có thể gặp ở người lớn. Hầu hết trẻ em đều có ít nhất 1 lần mắc bệnh này, bệnh được biểu hiện bằng sốt và nổi nhiều chấm đỏ rải rác toàn thân (phát ban).

Nguyên nhân gây nên bệnh sốt phát ban?

Bệnh do nhiều loại siêu vi gây ra nhưng có 2 nguyên nhân chính gây bệnh sốt phát ban là siêu vi sởi và siêu vi gây bệnh rubella. Bệnh sởi còn gọi là ban đỏ,  còn bệnh rubella còn gọi là ban đào.

Bệnh sốt phát ban lây theo đường nào?

Ðây là bệnh lây theo đường hô hấp do người lành hít phải các chất có siêu vi trùng gây bệnh khi người bệnh ho hay hắt hơi.

Bệnh sốt phát ban biểu hiện như thế nào?

Sốt phát ban do sởi thường biểu hiệu bằng sốt cao kèm ho, sổ mũi, mắt đỏ vài ngày sau đó phát ban toàn thân. Trước khi phát ban trẻ thường bứt rứt quấy khóc nhiều và sau khi ra ban trẻ sẽ giảm sốt và giảm quấy. Trong khi đó, phát ban do rubella thường kèm sốt nhẹ hay không sốt và ban xuất hiện rất nhanh có thể 1 ngày đã nổi khắp cơ thể. Ða số trẻ có kèm tiêu chảy hoặc phân hơi lỏng

Triệu chứng và nguyên nhân bệnh sốt phát ban - 1
Ban đào hay rubella thì rất lành tính ở trẻ em, rất hiếm gặp biến chứng (ảnh minh họa)

Bệnh sốt phát ban có nguy hiểm không?

Ban đỏ hay sởi chỉ nguy hiểm khi có biến chứng, các biến chứng thường gặp của sởi là  viêm phổi, viêm tai giữa, kiết lỵ và nặng hơn là viêm não. Ban đào hay rubella thì rất lành tính ở trẻ em, rất hiếm gặp biến chứng. Tuy nhiên nếu phụ nữ mang thai trong vòng 3 tháng đầu mắc bệnh ban đào sẽ ảnh hưởng đến thai nhi gây sẩy thai, sinh non, thai nhi sinh ra mắc nhiều tật ở mắt, tim, não.

Bệnh sốt phát ban có cần phải nhập viện không?

Bệnh sốt phát ban có thể  điều trị tại nhà bằng cho trẻ uống thuốc hạ sốt nếu có sốt, thuốc giảm ho, cho trẻ uống nhiều nước, ăn thức ăn lỏng dễ tiêu. Cần mang trẻ đến bệnh viện khi trẻ sốt cao không hạ, thở mệt, tiêu phân có máu, chảy mủ tai, co giật hôn mê vì lúc này trẻ đã có biến chứng.

Làm thế nào để phòng ngừa bệnh sốt phát ban?

Cần cách ly trẻ bệnh, nhưng cách này rất  khó vì trẻ bệnh có thể lây cho trẻ khác ngay khi chưa có biểu hiện phát ban.

Cách phòng ngừa tốt nhất là chủng ngừa:

Sởi có thể chích ngừa khi trẻ được 9 tháng tuổi theo chương trình tiêm chủng mở rộng
Rubella được chích chung với quai bị và sởi trong cùng 1 lần  khi trẻ được 12 tháng tuổi.

Có nên kiêng gió, kiêng nước, kiêng ăn cho trẻ bị sốt phát ban hay không?

Không nên kiêng gió, kiêng nước, kiêng ăn. Thói quen kiêng gió, kiêng nước bằng cách trùm kín trẻ, không vệ sinh cơ thể sẽ làm trẻ khó hạ sốt và dễ  co giật do sốt cao. Không vệ sinh cơ thể sẽ làm trẻ khó chịu và dễ nhiễm trùng da và biến chứng viêm phổi. Tuy nhiên không nên để trẻ bị lạnh. Kiêng ăn sẽ làm cho trẻ rất dễ bị suy dinh dưỡng, sức đề kháng kém và dễ bị nhiễm trùng. Ngược lại, nên cho trẻ ăn nhiều hơn bình thường, ăn thành nhiều bữa, ăn thức ăn dễ tiêu.

(Theo Bệnh viện Nhi đồng)

Bệnh liên cầu lợn và cách phòng, chống

Bệnh liên cầu khuẩn lợn do Streptococcus suis (S.suis) gây nên, bệnh xảy ra trên lợn là chủ yếu, ở nhiều nơi trên thế giới và gây tổn thất lớn về kinh tế. Bệnh liên cầu lợn có thể lây cho người, vì vậy nó được xếp vào nhóm các bệnh lây truyền từ động vật sang người.

Bệnh cảnh viêm màng não ở liên cầu lợn:
Người bệnh sốt cao, đau đầu, buồn nôn, nôn, ù tai, điếc, cứng gáy, rối loạn tri giác… xuất huyết đa dạng ở một số nơi trên cơ thể. Một số trường hợp xuất hiện các triệu chứng nhiễm khuẩn, nhiễm độc tiêu hóa: sốt, đi cầu nhiều lần, phân lỏng, cơ thể lạnh, run… trước khi có biểu hiện của viêm màng não.
Trường hợp nặng: Sốc nhiễm độc, trụy mạch, cơ thể lạnh, tụt huyết áp, nhiễm khuẩn huyết cấp tính, rối loạn đông máu nặng, suy hô hấp, suy đa phủ tạng… hôn mê và tử vong.Chẩn đoán xác định:
Tìm thấy S.suis gây bệnh (thường là S.suis týp II) khi nuôi cấy bệnh phẩm (máu người bệnh hoặc các mô, tổ chức bị tổn thương) hoặc tiến hành làm xét nghiệm huyết thanh học hoặc làm phương pháp sinh học phân tử (PCR). Cần chẩn đoán phân biệt với một số bệnh tương tự viêm màng não do não mô cầu, viêm màng não do Haemophilus Influenzae, sốt xuất huyết thể nặng.

Tổn thương ban hoại tử da do liên cầu lợn.


Xét nghiệm cần làm:

– Loại mẫu bệnh phẩm: máu người bệnh, các mô, tổ chức bị tổn thương.
– Phương pháp xét nghiệm:
+ Phân lập liên cầu: Cấy máu, lấy khuẩn lạc nhuộm soi thấy hình ảnh liên cầu gram (+), tiếp đó quan sát hiện tượng dung huyết alpha và beta trên môi trường thạch máu cừu và ngựa.
+ Thực hiện phản ứng kháng thể huỳnh quang phát hiện vi khuẩn tại các mô bị nhiễm.
+ Làm phản ứng PCR là phương pháp chính xác nhất.

Tác nhân gây bệnh
– Tác nhân gây bệnh liên cầu lợn là một loại liên cầu khuẩn có tên là Streptococcus suis (S.suis). Vi khuẩn gram dương, hình cầu hay hình ô van, kỵ khí tùy tiện. Ở động vật, vi khuẩn thường cư trú ở đường hô hấp trên đặc biệt là xoang mũi và hạch hạnh nhân. Tuy nhiên, vi khuẩn cũng có thể có trong đường tiêu hóa và đường sinh dục của lợn. Dựa vào đặc điểm của các polysaccharid ở lớp vỏ bọc vi khuẩn, người ta đã xác định vi khuẩn có 35 týp huyết thanh. Trong đó, S.suis týp II thường gây bệnh ở người. S.susi chủ yếu sống ở lợn nhà nhưng đôi khi cũng tìm thấy ở các loài lợn rừng, ngựa, chó, mèo và chim. S.suis có thể tồn tại lâu trong phân, nước, rác. Như vậy, môi trường đóng vai trò quan trọng trong quá trình truyền bệnh của vi khuẩn. S.suis dễ bị tiêu diệt bởi các chất sát khuẩn và tẩy rửa, có thể điều trị hiệu quả bằng kháng sinh.

Streptococcus suis, tác nhân gây bệnh nguy hiểm.

Nguồn truyền nhiễm
– Ổ chứa: Lợn nhà, có thể cả lợn rừng, ngựa, chó, mèo và chim. Các véc-tơ có khả năng truyền bệnh bao gồm ruồi, gián, chuột.
– Thời gian ủ bệnh: Thời gian ủ bệnh ngắn, chỉ từ vài giờ đến 3 ngày.
– Thời kỳ lây truyền: Hiện nay chưa được biết đầy đủ. Khả năng khi lợn bị bệnh, vi khuẩn S.suis biến đổi và tăng độc tính mới lây nhiễm cho người. Chưa thấy có sự lây truyền bệnh từ người sang người.

Phương thức lây truyền
– Streptococcus suis có thể lây truyền qua người khi tiếp xúc với lợn bệnh hay lợn mang vi khuẩn qua các tổn thương nhỏ, trầy xước trên da của những người giết mổ, chế biến và ăn thịt lợn bệnh hay lợn mang vi khuẩn nấu không chín. Hiện nay, chưa có bằng chứng bệnh liên cầu khuẩn có thể lây trực tiếp từ người sang người.
– Lợn mang vi khuẩn là nguồn lây nhiễm chính. Bệnh có thể truyền qua đường hô hấp, các chất bài tiết, máu của lợn bệnh, lây lan thông qua tiếp xúc trực tiếp hoặc lây qua kim tiêm nhiễm khuẩn. Vi khuẩn có thể vẫn có mặt ở hạch hạnh nhân của lợn sau khi đã được điều trị bằng kháng sinh penicillin. Lợn nái có thể mang vi khuẩn trong tử cung và âm đạo. Lợn có thể bị nhiễm vi khuẩn ở bất kỳ tuổi nào. Khả năng nhiễm và gây bệnh của vi khuẩn ở lợn con cao hơn ở lợn trưởng thành. Các đàn lợn con trong trạng thái chịu stress và tiếp xúc với nguồn bệnh sẽ có khả năng phát bệnh cao.
– Phân, chất độn chuồng, các loại thức ăn và nước uống trong chuồng nuôi có thể trở thành nguồn bệnh thứ cấp. Các động vật khác có khả năng truyền bệnh bao gồm ruồi, gián, chuột.

Tính cảm nhiễm và miễn dịch
– Ở lợn: Có thể bị nhiễm vi khuẩn ở bất kỳ tuổi nào. Khả năng nhiễm và gây bệnh của vi khuẩn ở lợn con cao hơn ở lợn trưởng thành.
– Ở người: Hiện nay chưa được biết đầy đủ.
– Những người có nguy cơ nhiễm bệnh cao: người làm việc ở trại chăn nuôi lợn, người giết mổ gia súc, cán bộ thú y, người ăn tiết canh lợn hoặc ăn thịt lợn ốm chết.

Các biện pháp phòng, chống dịch

– Biện pháp phòng bệnh:
Đối với người giết mổ lợn phải tuân theo các quy định: Không giết mổ lợn bị bệnh; không được sử dụng thịt lợn chết làm thức ăn cho động vật khác và phải xử lý lợn bị bệnh chết triệt để, tránh gây nhiễm ra môi trường và cộng đồng; mang các dụng cụ bảo vệ cá nhân cần thiết (găng tay, khẩu trang, kính, mũ…), bảo đảm các vết xước, vết thương không tiếp xúc với lợn hay các sản phẩm của lợn; nơi giết mổ phải bảo đảm vệ sinh môi trường sạch sẽ, tách biệt với khu chế biến thức ăn.

Đối với người mua bán thịt lợn: Không mua, bán lợn bị bệnh; không mua bán lợn, thịt lợn không rõ nguồn gốc; chỉ mua lợn, thịt lợn có nguồn gốc, không bị bệnh và có dấu hiệu kiểm dịch của cơ quan thú y.

Đối với người tiêu dùng: Không ăn thịt lợn sống, không ăn tiết canh, nội tạng lợn chưa được nấu chín, không ăn thịt lợn và sản phẩm từ lợn không rõ nguồn gốc; không tiếp xúc với sản phẩm từ lợn còn sống khi tay có vết xây xước, trừ khi mang găng bảo vệ.

Đối với người chế biến thức ăn: Giữ cho khu vực chế biến thức ăn sạch sẽ và rửa tay sau khi thao tác; khi lưu trữ, bảo quản thịt sống phải tách biệt với nơi bảo quản thịt đã qua chế biến hoặc sản phẩm ăn sẵn để tránh lây nhiễm bệnh; không dùng dụng cụ chế biến thịt sống để chế biến thịt (dao, thớt); rửa tay sạch bằng xà phòng sau khi chế biến thịt; sản phẩm phải được nấu chín kỹ trước khi ăn…

– Biện pháp chống dịch: Khi nhận thấy có dịch liên cầu khuẩn xảy ra thì phải xử lý như xử lý một ổ dịch truyền nhiễm:
+ Tăng cường giám sát phát hiện sớm các trường hợp bị nghi nhiễm liên cầu lợn, nên đưa ngay đến bệnh viện để điều trị kịp thời, đặc biệt chú ý giám sát những đối tượng có tiếp xúc gần với lợn bị bệnh như người chăn nuôi, giết mổ và buôn bán lợn.
+ Khoanh vùng, phun khử trùng môi trường vùng có dịch bằng chloramin B 3-5%.
+ Nghiêm cấm hoàn toàn việc di chuyển và giết mổ lợn. Không giết mổ, vận chuyển lợn bệnh, lợn chết phải tiêu hủy đúng cách.
+ Lợn ốm, chết phải chôn, đổ thuốc sát khuẩn và tiêu hủy. Chuồng trại và môi trường chăn nuôi phải phun thuốc sát khuẩn, khử khuẩn. Để trống chuồng 2 tuần mới nuôi lợn trở lại.

– Nguyên tắc điều trị: Lưu ý phát hiện sớm các trường hợp có biểu hiện viêm màng não và có tiếp xúc với lợn bị bệnh, chẩn đoán và điều trị kịp thời nhằm giảm tỷ lệ tử vong và biến chứng.
Điều trị kháng sinh đặc hiệu penicillin liều cao: uống, tiêm bắp hoặc truyền tĩnh mạch, thường phải điều trị trên 10 ngày. Có thể dùng các kháng sinh khác cũng hiệu quả như: ampicillin, erythromycin hoặc nhóm cephalosporin.
Điều trị triệu chứng và áp dụng các biện pháp hồi sức tích cực nếu có biến chứng nặng.
Lọc máu nếu có điều kiện.

– Kiểm dịch y tế biên giới: Thực hiện nghiêm ngặt công tác kiểm dịch quốc tế khi xuất, nhập lợn qua biên giới để không đưa mầm bệnh từ nước ngoài xâm nhập vào nước ta và ngược lại.

* Người có nguy cơ lây nhiễm và phát bệnh khi tiếp xúc với lợn bệnh hoặc các sản phẩm từ lợn bệnh. Biểu hiện lâm sàng chính là: viêm màng não, xuất huyết, viêm phổi, viêm cơ tim và viêm khớp. Những người bị bệnh nặng có thể tử vong do độc tố vi khuẩn gây sốc nhiễm khuẩn, viêm nội tâm mạc, suy đa phủ tạng, nhiễm khuẩn huyết… Tỷ lệ chết có thể tới 7%.Bệnh liên cầu lợn thuộc nhóm B trong Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm, ICD-10 B95: Streptococcus suis diseases.* Theo một nghiên cứu gần đây của Bệnh viện Bệnh nhiệt đới TP. Hồ Chí Minh cho thấy bệnh này có khuynh hướng xảy ra vào mùa hè nắng nóng, 58 bệnh nhân (81%) là nam giới. Phần lớn bệnh nhân là nông dân, 38% bệnh nhân có tiền sử tiếp xúc với lợn hay thịt lợn, tuy nhiên chỉ có 6 bệnh nhân (8%) có tổn thương da nghi ngờ. 69 bệnh nhân (96%) biểu hiện bệnh cảnh viêm màng não như: sốt, nhức đầu, ói, cổ cứng, rối loạn tri giác là những triệu chứng thường gặp. 68% trường hợp viêm màng não mủ có triệu chứng ù tai, điếc. Một bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết bị sốc do nhiễm độc tố liên cầu. Sau 10 – 14 ngày dùng kháng sinh ceftriaxon, hầu hết bệnh nhân đều hồi phục. Tất cả các chủng vi khuẩn phân lập được còn nhạy cảm với penicillin và ceftriaxon.
( Theo Báo SK&ĐS)

Nhiễm liên cầu khuẩn dễ chẩn đoán nhầm

(SKDS) – Bệnh viện Bệnh nhiệt đới Trung ương những ngày gần đây liên tục tiếp nhận bệnh nhân nhiễm liên cầu khuẩn lợn. Tính đến tháng 5/2012 chỉ có 14 ca mắc, 3 tháng lại đây (đến ngày 27/8/2012) có 45 ca mắc bệnh liên cầu lợn (trường hợp mới nhất được nhập viện ngày 27/8) ở các tỉnh như: Bắc Giang, Hải Dương, Nghệ An, Ninh Bình, Nam Định, Thái Bình, Phú Thọ, Thái Nguyên…

Nhập viện muộn – Nguy hiểm đến tính mạng

Khi nhiễm liên cầu khuẩn lợn, bệnh có diễn biến đột ngột nhanh chóng, người bệnh có thể tử vong nếu không được điều trị kịp thời.

ThS.BS. Nguyễn Hồng Hà – Phó Giám đốc Bệnh viện Bệnh nhiệt đới Trung ương cho biết: hầu hết bệnh nhân nhiễm liên cầu lợn nhập viện trong giai đoạn muộn. Điển hình bệnh nhân nam ở Phú Thọ nhập viện ngày 17/8/2012 trong tình trạng rất nặng, sốc nhiễm khuẩn, suy gan thận, các bác sĩ đã tiến hành lọc máu, điều trị tích cực. Sau 24 giờ, tình trạng bệnh tiến triển xấu thêm nên gia đình xin đưa bệnh nhân về. Trường hợp bệnh nhân N.V.L. ở Nghệ An: ngày 15/8/2012, sau khi uống rượu và ăn tiết canh lợn khoảng 12 giờ, bệnh nhân có biểu hiện sốt cao, rét run.
 Điều trị bệnh nhân nhiễm liên cầu lợn tại Bệnh viện Bệnh nhiệt đới Trung ương.

Bệnh nhân tự mua thuốc về điều trị nhưng không đỡ. Ngày 18/8/2012, L. được gia đình đưa vào cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa Nghệ An và được chuyển thẳng ra Bệnh viện Bệnh nhiệt đới Trung ương trong tình trạng xuất huyết, sốc nhiễm khuẩn nặng, rối loạn đông máu và suy tạng cấp… Tại đây, các bác sĩ đã tiến hành lọc máu và hiện bệnh nhân đang được điều trị tích cực tại Khoa Hồi sức cấp cứu. Tuy nhiên, bệnh nhân vẫn đang trong tình trạng nguy kịch.

Trường hợp cụ L.T.L., 90 tuổi, ở Lưu Nông, Bình Minh (Nam Trực – Nam Định) là một trường hợp cực kỳ may mắn được cứu sống. Theo lời kể của người nhà bệnh nhân, trước khi nhập viện 1 ngày, cụ có biểu hiện đau đầu, sốt nóng, người gai rét. Trên cẳng tay phải xuất hiện ít ban hoại tử da. Ngày 4/8/2012, cụ L.T.L được đưa vào cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định và sau đó được chuyển ngay lên Bệnh viện Bệnh nhiệt đới Trung ương.

Khi nhập BV Bệnh nhiệt đới, cụ L. trong tình trạng sốt, lơ mơ, rối loạn ý thức, xuất hiện hoại tử thành đám ở đùi, tay, vai…, xuất hiện hội chứng màng não (đau đầu, nôn, cứng gáy…). Tại đây, các bác sĩ đã tiến hành xét nghiệm máu cho kết quả bạch cầu tăng, giảm tiểu cầu và chọc dịch não tủy có màu vàng lờ đục. Điều này cho thấy bệnh nhân bị nhiễm khuẩn nặng. Bác sĩ nghĩ đến tình huống bệnh nhân bị nhiễm khuẩn liên cầu lợn. Trong khi chờ kết quả cấy máu, dịch não tủy, bác sĩ đã chỉ định dùng kháng sinh đặc hiệu. 3 ngày sau có kết quả chọc dịch não tủy 414 tế bào/1mm3 dịch (bình thường chỉ có 0-3 tế bào/mm3 dịch), 98% bạch cầu đa nhân trung tính, hình ảnh cầu khuẩn bắt gram (+), kết quả cấy máu thấy vi khuẩn liên cầu lợn Streptococcus suis (S.cuis).

Sau 20 ngày điều trị tích cực, sức khỏe cụ L. đã ổn định và xuất viện ngày 27/8.

Bệnh dễ chẩn đoán nhầm

Theo Th.BS. Nguyễn Hồng Hà: Bệnh nhiễm liên cầu khuẩn lợn nguy hiểm bởi có diễn biến nhanh, chỉ trong vòng 12-20 giờ đã có thể rất nguy hiểm, bệnh nhân rơi vào sốc do nhiễm khuẩn huyết có thể dẫn đến tử vong nếu điều trị muộn. Hơn nữa, ban đầu, bệnh thường không có dấu hiệu điển hình ngoài việc sốt cao, vì thế dễ chẩn đoán nhầm với các bệnh khác như: sốt xuất huyết, nhiễm khuẩn tụ cầu, viêm màng não do não mô cầu… Điều đáng lưu ý là một bệnh nhân bị bệnh liên cầu khuẩn lợn thể viêm màng não mủ phải nằm viện điều trị ít nhất là 3 tuần. Còn những người bị nhiễm khuẩn huyết phải điều trị tới 2 tháng với chi phí vô cùng tốn kém.

Hãy cảnh giác với lợn bệnh

Th.BS. Nguyễn Hồng Hà cho biết: Liên cầu S. suis là một tác nhân gây bệnh nguy hiểm ở lợn. Khi nhiễm liên cầu lợn, người bệnh có triệu chứng sốt cao, đau đầu, buồn nôn, nôn, ù tai, điếc, cứng gáy, rối loạn tri giác…, xuất huyết đa dạng ở một số nơi trên cơ thể. Trường hợp nặng, người bệnh bị sốc nhiễm độc, trụy mạch, cơ thể lạnh, tụt huyết áp, nhiễm khuẩn huyết cấp tính, rối loạn đông máu nặng, suy hô hấp, suy đa phủ tạng…, hôn mê và tử vong.

Vì vậy, phòng bệnh liên cầu khuẩn lợn tốt nhất bằng cách: Không tiếp xúc với lợn bệnh, khi giết mổ phải có các thiết bị phòng hộ như đeo găng tay, khẩu trang; Tuyệt đối không ăn tiết canh, không ăn thịt lợn chưa nấu chín, không hợp vệ sinh vì vi khuẩn có thể tồn tại trong thịt lợn chế biến tái và đặc biệt là món tiết canh lợn; Thịt cần được nấu chín kỹ. Nếu thấy thịt lợn có màu đỏ khác thường, xuất huyết hoặc phù nề thì tuyệt đối không dùng.

(Khánh Mai – SKĐS)

BỆNH ĐAU MẮT ĐỎ (VIÊM KẾT MẠC)

Hiện nay dịch đau mắt đỏ đang hoành hành tại một số tỉnh và Hà Nội.

Sau đây là những điều cần biết về bệnh đau mắt đỏ để người dân biết cách nhận biết và phòng ngừa:

 Bệnh đau mắt đỏ là gi ?

– Bệnh đau mắt đỏ được biểu hiện bằng mắt đỏ và có ghèn.

  Thường đỏ một mắt trước, sau đó lan qua mắt thứ hai.  Ghèn thường là nước trong hoặc ghèn vàng

– Một số ít trường hợp có thể có xuất huyết dưới kết mạc hoặc có giả mạc. Đôi khi có đau hạch sau tai, viêm họng, sốt nhẹ và mõi mệt

– Bệnh nhân đau mắt đỏ có cảm giác cộm, xốn tại mắt giống như có “ cát “, mắt khó chịu, đau nhẹ và mờ thóang qua

 Nguyên nhân & đường lây truyền

– Nguyên nhân gây bệnh có thể là do vi trùng (phế cầu trùng, liên cầu trùng, tụ cầu trùng…) hoặc do virut (phổ biến nhất là Adenovirus).

 Tuy nhiên, nguyên nhân gây bệnh đau mắt đỏ đa số là do virut.

– Đường lây:  Có thể lây qua nhiều con đường như qua những hạt tiết tố nhỏ loại ti khi bệnh nhân ho hoặc nhảy mũi; qua đồ dùng cá nhân, khăn tay nhiễm nguồn bệnh; qua nước bị nhiễm khuẩn (ví dụ nước hồ bơi bị nhiễm khuẩn).

Nhưng đặc biệt nguy hiểm và nhanh nhất là qua đường hô hấp. Cụ thể là qua tuyến nước vọt khi bệnh nhân ho hoặc nhảy mũi.

– Đặc điểm của dịch đau mắt đỏ do virut:

 +  Lây lan tương đối nhanh

 +  Đa số trường hợp tự hết sau 7 đến 14 ngày

 +  Chỉ có một số ít trường hợp có biến chứng giác mạc

 Đau mắt đỏ có biến chứng gì ?

–  Viêm kết mạc mạn

–  Viêm giác mạc

–  Loét giác mạc ….

 Điều trị:

– Đa số trường hợp bệnh tự khỏi sau 7 đến 14 ngày

– Mục đích của điều trị là đem lại sự dễ chịu và tránh lây lan trong cộng đồng

– Điều trị chống bội nhiễm.

Bệnh nhân nên làm gì ?

– Đeo kính râm

– Nhỏ dung dịch nước muối đẳng trương ( NaCl 0,9 % ) hoặc nước mắt nhân tạo

– Có thể dùng thuốc nhỏ kháng sinh ngừa bội nhiễm vi trùng

– Chườm lạnh sẽ giúp giảm sưng và mang lại cảm giác dễ chịu

– Dùng bông gòn sạch lau khô

– Giữ gìn vệ sinh cá nhân

– Rửa tay với xà phòng sát khuẩn đóng vai trò quan trọng

– Không tự dùng thuốc nhỏ có chất “ Dexa” nếu không có chỉ định của Bác sỹ Mắt

– Không được dùng những thuốc “ cổ truyền “ vì như thế sẽ dễ gây biến chứng tại mắt .

Khi nào cần khám Bác sỹ chuyên khoa Mắt:

– Bệnh kéo dài

– Mắt đau nhức nhiều

– Mắt sưng nhiều, có giả mạc hoặc xuất huyết

– Nhìn mờ

– Sợ ánh sáng

– Có ghèn giống mủ xanh

– Bé sơ sinh

Phòng ngừa

– Nhìn nhau không lây mắt đỏ

– Chưa có thuốc nhỏ ngừa bệnh

– Trung gian truyền bệnh là nước mắt của bệnh nhân đau mắt đỏ ( nước mắt có chứa virut . vi khuẩn)

 Cách lây truyền:

– Qua những hạt tiết tố nhỏ li ti, khi bệnh nhân ho hoặc nhảy mũi

– Qua những vật dụng nhiễm nguồn bệnh ( nấm tay cửa, điện thoại, khăn ,…)

– Qua nước bị nhiễm khuẩn ( ví dụ như nước hồ bơi )

Do đó để phòng bệnh nên tránh tiếp xúc những vật dụng dễ nhiễm nguồn bệnh ( là nước mắt có chứa virut của bệnh nhân )

Rửa tay với xà phòng diệt khuẩn là một biện pháp phòng bệnh rất hữu hiệu

Theo BS.Diệp Hữu Thắng,  Bv Mắt TP.HCM

(Nguồn: Websuckhoe.vn)

Bệnh sốt xuất huyết diễn biến bất thường


Điều trị cho bệnh nhân sốt xuất huyết.

Theothống kê của Bộ Y tế từ đầu năm 2011 đến nay, cả nước ghi nhận khoảng 8.000 trường hợp mắc sốt xuất huyết (SXH), trung bình số người mắc SXH là 500 ca/tuần cao hơn nhiều so với cùng kỳ năm 2010 và có nhiều ca biến chứng nặng.

 Bệnh hiện gia tăng ở các tỉnh phía Nam. Các chuyên gia y tế cảnh báo, SXH năm nay đang diễn biến bất thường, nguy cơ bùng phát dịch sớm và mạnh hơn so với năm 2010.

Gia tăng bệnh nhân mắc

Thống kê của Bệnh viện Nhiệt đới TP.Hồ Chí Minh cho thấy, số người mắc SXH vào viện ngày càng tăng, chiếm 35% bệnh nhân các loại. Mỗi ngày, bệnh viện tiếp nhận điều trị 50 người mắc SXH, số ca nặng chiếm tới 3-5%. Tại Bệnh viện Nhi Đồng 1 – TPHCM, trung bình mỗi ngày bệnh viện điều trị 10 trẻ mắc SXH, trong đó có vài ca nặng. Còn theo đánh giá của Trung tâm y tế dự phòng TP.Hồ Chí Minh, đến nay có gần 1.000 ca mắc SXH, cao gấp đôi cùng kỳ năm 2010. Điểm khác biệt những ca SXH năm nay, chính là số bệnh nhân cư ngụ tại thành phố gia tăng, chiếm phần lớn các trường hợp mắc SXH tại các bệnh viện.

Điều bất thường SXH thường giảm vào những tháng mùa khô nhưng năm nay, người mắc SXH gia tăng ngay từ đầu năm và vẫn tiếp tục duy trì ở mức cao. Đáng lo ngại, một số địa bàn trọng điểm của dịch sốt xuất huyết tuy bệnh chưa vào mùa, nhưng các ca bệnh đã cao hơn bình thường so mọi năm. Nguyên nhân gia tăng bệnh nhân mắc SXH, ngoài những thay đổi bất thường của thời tiết mưa nhiều ở các tỉnh phía nam, độ ẩm cao thuận lợi cho muỗi gây bệnh phát triển, còn do sự chủ quan của người bệnh (tự điều trị sốt xuất huyết tại nhà vì nghĩ đó là sốt thông thường), phát hiện bệnh muộn, môi trường ô nhiễm…

Phun hóa chất diệt muỗi phòng bệnh sốt xuất huyết.

Triệu chứng nặng phải đến ngay cơ sở y tế

Thông thường bệnh nhân SXH thường có quá trình diễn biến trong 7 ngày với các triệu chứng như sốt cao, liên tục đau đầu, đau cơ, mệt mỏi, phát ban, buồn nôn, nôn hoặc có các biểu hiện xuất huyết tự nhiên như chấm xuất huyết dưới da, chảy máu mũi, chảy máu nướu răng, xuất huyết tiêu hóa… Trong 3 ngày đầu, bệnh nhân thường sốt cao từ 39-40oC, đau đầu, đau mình mẩy, ăn uống kém, mệt mỏi. Nguy hiểm thường ở ngày sốt thứ 3 đến ngày thứ 6, người bệnh mệt lả đi, đái ít, bứt rứt, mạch nhanh nhẹ, huyết áp tụt, nặng hơn nữa là không đo được mạch… Bệnh thường xảy ra ở trẻ dưới 15 tuổi.

Điều lo ngại, một triệu chứng mà nhiều người rất dễ chủ quan là việc ngưng sốt. Thời điểm bệnh trở nặng, sẽ ngưng sốt nhưng lại lử đử, đau bụng, nôn ói, tay chân lạnh, tiểu ít… Khi thấy xuất huyết chân răng, nôn ra máu và đi ngoài phân đen thì phải đưa bệnh nhân đến bệnh viện ngay để tránh những biến chứng ảnh hưởng đến tính mạng. Nếu bệnh nhân sốt từ 2 ngày trở lên, uống thuốc hạ sốt không đỡ thì phải nghĩ ngay đến nguy cơ đã mắc SXH. Tuyệt đối không cho người bệnh uống kháng sinh khi chưa có chỉ định của bác sĩ, không cạo gió, không kiêng ăn, không nhịn uống….

Hữu hiệu nhất là phòng bệnh

Bệnh SXH hiện chưa có thuốc điều trị đặc hiệu, do vậy biện pháp hữu hiệu nhất là phòng bệnh. Diệt muỗi, bọ gậy (lăng quăng), vệ sinh môi trường sạch sẽ xung quanh nơi ở, nằm màn khi ngủ… Khi địa bàn có SXH cần tăng cường các biện pháp chống dịch, làm giảm nhanh mật độ muỗi trong cộng đồng bằng cách phun hóa chất diệt muỗi…

Sốt xuất huyết – Triệu chứng và cách điều trị:

Sốt xuất huyết là một bệnh truyền nhiễm cấp tính do siêu vi trùng tên là Dengue (Đăn-gơ) gây ra. Bệnh lây do muỗi vằn hút máu truyền siêu vi trùng từ người bệnh sang người lành. Muỗi vằn có nhiều khoang trắng ở lưng và chân, thường sống ở trong nhà, đậu trong những chỗ tối như gầm bàn, gầm giường, hốc tủ. Quần áo treo trên vách…, chích hút máu người cả ngày lẫn đêm.

Dịch sốt xuất huyết các năm trước đây chủ yếu diễn biến ở trẻ em, nhưng năm nay số ngưới lớn mắc sốt xuất huyết và sốt virus nhập viện lớn hơn gấp nhiều lần các năm trước.

 Vì sao sốt xuất huyết nguy hiểm?

Xuất huyết xảy ra quanh năm, đặc biệt vào mùa mưa, có thể bộc phát thành dịch đe doạ sinh mạng trẻ em và sức khỏe cộng đồng.

Bệnh có thể trở nặng bất ngờ, gây tử vong cao.

Bệnh chưa có thuốc trị đặc hiệu và thuốc phòng ngừa.

Theo các bác sĩ đầu ngành, ở người lớn có hai dạng sốt xuất huyết: dạng biểu hiện ra bên ngoài và dạng không biểu hiện ra bên ngoài (thường gặp nhất là xuất huyết tiêu hóa và xuất huyết não).

Sốt xuất huyết tiêu hóa (trong ruột) ở người lớn có biểu hiện ban đầu rất bình thường, chỉ sốt, ít ho, không sổ mũi, không nổi ban. Sau 1 hoặc 2 ngày, bệnh nhân sẽ đi tiêu ra máu nhưng không nhiều và bắt đầu có những hạt lấm tấm trên da, người xanh xao.

Sốt xuất huyết não cũng rất khó nhận biết vì biểu hiện ban đầu không rõ ràng, nhưng rất dễ gây tử vong. Bệnh sốt xuất huyết có ba biểu hiện cụ thể như sau:

1. Bệnh sốt dengue (SD) không có xuất huyết tự phát.

2. Bệnh sốt xuất huyết dengue (SXHD) có những mức độ xuất huyết khác nhau như xuất huyết dưới da, niêm mạc và xuất huyết nội tạng. Xuất huyết dưới da thường gặp là những nốt chấm xuất huyết (petechiae), có thể diễn biến nặng là các ban xuất huyết (purpura), hoặc các bầm máu (ecchymosis), nơi nào trên cơ thể bị va chạm nhiều thì ở đó dễ bị xuất huyết nhiều.

3. Hội chứng sốc dengue và dễ tử vong: khởi đầu của bệnh là sốt đột ngột kéo dài từ 2 – 7 ngày kèm theo mệt mỏi, chán ăn, đau đầu, đau sau hốc mắt, đau lưng dọc theo các cơ và xương hoặc khớp, buồn nôn, nôn và nổi ban. Dấu hiệu xuất huyết nhẹ nhất là chảy máu cam, ngày có kinh kéo dài ở phụ nữ và dấu hiệu dây thắt dương tính.

Bệnh tiến triển nặng biểu hiện ở xuất huyết dưới da có thể lan rộng toàn thân, xuất huyết nội tạng với triệu chứng nôn ra máu hoặc đi ngoài phân đen, gan to. Có thể dẫn đến hội chứng sốc dengue với biểu hiện: bệnh nhân vật vã li bì, chân tay lạnh, nổi da gà, mạch nhanh, huyết áp hạ… có thể dẫn đến tử vong. Những trường hợp này xét nghiệm thấy bạch cầu, tiểu cầu giảm và hematocrit tăng.

Ban đầu, người bệnh sốt, bị nhức đầu, ngay sau đó tay bị tê liệt, không thể cử động. Cuối cùng, người bệnh sẽ bị hôn mê rồi dẫn đến tử vong. “Đối với các trường hợp này, bác sĩ không thể cứu chữa kịp vì tiến triển bệnh quá nhanh”.

Dạng sốt xuất huyết có biểu hiện bên ngoài ở người lớn cũng diễn biến bất thường và triệu chứng ồ ạt hơn ở trẻ em. Thời gian bị sốt cũng kéo dài hơn, khoảng 11-12 ngày thậm chí dài hơn (ở trẻ em chỉ 7 ngày). Sốt xuất huyết ở người lớn nguy hiểm nhất chính là lúc mạch huyết áp bị kẹt (bị tụt), từ đó bắt đầu sinh ra các biến chứng nguy hiểm như xuất huyết tiêu hóa, suy gan, đông máu. Tỷ lệ biến chứng ở sốt xuất huyết người lớn là khoảng 5%.

 Làm sao biết trẻ em bị sốt xuất huyết?

Khi thấy những dấu hiệu sau:

Sốt (nóng) cao 39-400 , đột ngột, liên tục trong 3-4 ngày liền.

Xuất huyết (chảy máu) thường ở nhiều dạng:

Xuất huyết dưới da: Làm lộ trên mặt da những chấm nhỏ màu đỏ, đốm đỏ hay vết bầm. Phân biệt với vết muỗi cắn bằng cách căng da chung quanh chấm đỏ, nếu chúng vẫn còn là do xuất huyết, ngược lại nếu biến mất thì đó là vết muỗi cắn.

Chảy máu cam, chảy máu chân răng, nướu răng.

Ói hoặc đi cầu ra máu (nước ói màu nâu, phân lợn cợn như bã cà phê hoặc đỏ tươi).

Đau bụng.

Sốc là dấu hiệu nặng, thường xuất hiện từ ngày thứ 3-6 của bệnh, đặc biệt lúc trẻ đang sốt cao chuyển sang hết sốt và có thể xảy ra kể cả khi không thấy rõ dấu hiệu xuất huyết. Dấu hiệu sốc gồm:

Trẻ mệt, li bì hoặc vật vã

Chân tay lạnh

Tiểu ít

Có thể kèm theo ói hoặc đi cầu ra máu.

Thực tế điều trị bệnh cho thấy, nguyên nhân gây tử vong cao nhất ở bệnh sốt xuất huyết người lớn là tràn dịch màng phổi. Bệnh viện Nhiệt đới TP HCM đã phải cấp cứu nhiều trường hợp sốt xuất huyết bị tràn dịch màng phổi mà nguyên nhân là sự thiếu hiểu biết về nguyên tắc trị bệnh. Khi mới sốt, những bệnh nhân này đã yêu cầu cơ sở y tế tuyến dưới hoặc bác sĩ tư nhân truyền dịch, gây ứ nước trong cơ thể và dẫn đến tràn dịch màng phổi.

Đối với sốt xuất huyết biểu hiện ra bên ngoài thì việc điều trị phải được thực hiện theo đúng phác đồ. Hiện nay đã có phác đồ điều trị sốt xuất huyết cho người lớn. Đây là phác đồ chuẩn được áp dụng cho tất cả các nước có sốt xuất huyết trên toàn thế giới. Theo đó, nếu mới có dấu hiệu sốt xuất huyết, người bệnh chỉ cần đến các cơ sở tuyến đầu để được hướng dẫn cách điều trị tại nhà mà chưa cần đến bệnh viện. Tất cả các cơ sở tuyến đầu đều đã được tập huấn đủ khả năng để xử lý những trường hợp ở cấp độ nhẹ.

Khi điều trị tại nhà (sốt xuất huyết cấp độ 1 và 2), người bệnh chỉ uống paracetamol để hạ sốt, ngoài ra không được dùng bất kỳ loại thuốc nào khác. Nên nghỉ ngơi, uống nhiều nước mát hoặc nước trái cây để giải nhiệt, tránh ăn những thức ăn khó tiêu. Sau 11 hoặc 12 ngày, nếu không có dấu hiệu biến chứng là bệnh đã khỏi. Để đề phòng xuất huyết não và xuất huyết tiêu hóa, khi có dấu hiệu nghi ngờ, nên đến cơ sở y tế ngay.

 Làm gì khi trẻ bị sốt xuất huyết?

Đưa trẻ đi khám bệnh ngay. Nếu trường hợp nhẹ, có thể chăm sóc tại nhà như sau:

Cho trẻ nghỉ ngơi, tránh chạy nhảy.

Cho ăn nhẹ: cháo, súp, sữa…

Cho uống nhiều nước hơn bình thường, có thể dùng nước chín để nguội, nước Oresol (nước biển khô, cách pha: 1 gói pha vào 1 lít nước, uống 100-150ml nước/kg cân nặng/ngày), nước cam vắt, nước chanh đường…

Hạ sốt với thuốc Paracetamol, lau nước ấm khi sốt cao.

Tuyệt đối không cho trẻ uống Aspirin (vì gây thêm xuất huyết), không cắt lễ hay cạo gió, không quấn kín hoặc mặc áo nhiều khi trẻ đang sốt, không cữ ăn, không nhịn uống.

Theo dõi bệnh và mang ngay đến bệnh viện khi thấy có các dấu hiệu trở nặng bất ngờ:

Trẻ mệt nhiều hơn, vẻ âu lo bứt rứt, li bì hoặc vật vã

Taychân lạnh, đau bụng nhiều hơn

Ói nhiều, da đổi màu bầm, môi tím lại.

Cách phòng bệnh sốt xuất huyết cho trẻ em:

Cho trẻ mặc quần áo dài tay, ngủ mùng cả ban đêm lẫn ban ngày. Không để trẻ nơi thiếu ánh sáng, ẩm thấp để tránh muỗi chích (đốt).

Thoa thuốc chống muỗi lên những vùng da lộ ra ngoài để bảo vệ trẻ mọi lúc, cả ngày lẫn đêm.

Đậy kín lu, vại, hồ, bể chứa nước, không tạo nơi cho muỗi đẻ và hàng tuần nên cọ rửa với bàn chải để trứng muỗi rơi ra; thả cá 7 màu diệt lăng quăng (bọ gậy).

Dọn dẹp nhà cửa ngăn nắp, sạch thoáng, không treo quần áo làm chỗ cho muối trú đậu, loại bỏ các vật chứa nước đọng (gáo dừa, lon, đồ hộp, ly, chén, chai lọ bể, vỏ xe…), thay nước bình bông mỗi ngày, đổ dầu hôi hoặc pha nhiều muối vào chén nước chống kiến chân tủ thức ăn để triệt nơi sinh sản của muỗi. Có thể dùng thuốc diệt muỗi hoặc nhang trừ muỗi.

Điều trị sốt xuất huyết bằng Y học cổ truyền

Trong điều trị sốt xuất huyết, y học hiện đại có ưu thế hơn Đông y khi xử lý chống choáng bằng truyền dịch và trợ tim mạch. Tuy nhiên, trong một số trường hợp sốt cao, một số vị thuốc của Đông y tỏ ra hữu hiệu khi bệnh không đáp ứng tốt với các biện pháp chính thống của Tây y.

Địa long chữa sốt xuất huyết. Địa long thường gọi là giun đất hay trùn đất là 1 vị thuốc đặc trị hạ sốt của y học cổ truyền trong các chứng sốt cao, kể cả sốt xuất huyết. Cách dùng: Địa long có bán sẳn ở các hiệu thuốc bắc. Mua từ 10 đến 12 con, sao thơm sắc uống. Có thể dùng bằng cách sao thơm, tán bột uống mỗi lần 0,5g. Tốt nhất là nấu cháo với 1 nhúm nhỏ hạt gạo đã rang qua và cho bệnh nhi uống dần mỗi lần một vài muỗng, vừa có tác dụng hạ sốt lại vừa bổ sung nước và chất dinh dưõng.

Địa long vốn dĩ là 1 loại thực phẩm có độ đạm rất cao được dùng để chữa các trường hợp suy dinh dưỡng của trẻ em hoặc người ốm mới dậy. Bài thuốc dân gian “Thần dược cứu mệnh”[i] với Địa long là vị thuốc chủ lực đã được Bác sĩ Nguyển văn Hưởng, nguyên Bộ trưởng Bộ Y Tế cho phổ biến để sử dụng hửu hiệu trong đợt chống dịch sốt xuất huyết tại các tỉnh miền Bắc vào năm 1969.

Thành phần và cách sử dụng bài thuốc Địa Long như sau:

Địa Long, Bài thuốc Nam chữa bệnh

 Là một bài thuốc Nam Cổ, được Lương y Nguyễn an Định báo cáo trên báo Long An. Địa chỉ: 40/10 Hậu Lân – Bà Diềm – Hóc Môn – TP.HCM. Tel: 8914.379.

Toa thuốc như sau:

  1. Địa Long: 50gr (mua ở hiệu thuốc bắc)
  2. Đậu xanh: 100 gr (sao thơm)
  3. Đậu đen: 100 gr (sao thơm)
  4. Rau ngót: 200-300gr (khoảng chừng 3 mớ rau)

Các sắc thuốc và uống:

–          Ngày 1 thang, uống làm 3 nước. Mỗi lần sắc 3 bát nước còn lại ½ bát. (Theo kinh nghiệm cá nhân của những người đã sắc, thì nên sắc 4 bát nước còn lại ½ chén là vừa, vì thuốc khô hay hút nước.)

–          Uống: tối 8 giờ, sáng 6 giờ, trưa 1 giờ, có thể đảo lộn trình tự đó. Nhưng nước thứ nhất uống tối là tốt hơn.

–          Tất cả các vị thuốc sao thơm, cho vào nồi sắc còn ½ bát.

Ghi chú: thuốc có tính hàn nên một số người sẽ bị tiêu chảy nhẹ khi uống, nhưng không có vấn đề gì cả.

 Lá đu đủ trị bệnh sốt xuất huyết

Lá đu đủ tươi chữa sốt xuất huyết. Lá đu đủ là 1 thảo dược dễ tìm có nhiều chất chống oxy hoá và những enzym có tác dụng sát trùng, kháng viêm và tăng sức miễn dịch. Ngày 17.7.2010, hãng thông tấn quốc giaSri Lankavừa cho biết dịch chiết lá đu đủ đang được xem là liệu pháp chính thức chữa trị bệnh sốt xuất huyết hiện lan tràn rất nhanh tại quốc đảo nầy.

Một nghiên cứu khoa học[ii] về tác dụng của lá đu đủ tươi đối với sốt xuất huyết đã được thực hiện trên 70 bệnh nhân sốt xuất huyết bao gồm khoảng 15 trẻ em. Kết quả cho biết liều dùng 10ml dịch chiết lá đu đủ tươi mỗi người mỗi ngày đã chữa khỏi hoàn toàn cho số bệnh nhân nầy. Các bệnh nhân nầy cũng được theo dõi vài tháng sau đó và được xác định là không có phản ứng phụ.

Về cơ chế tác dụng, Bác sĩ Sanath Hettige, người hướng dẫn cuộc thí nghiệm, cho rằng dịch chiết lá đu đủ làm tăng số lượng bạch huyết cầu và tiểu cầu, ngăn chận nguy cơ xuất huyết do lượng tiểu cầu xuống thấp. Số lượng tiểu cầu bình thường là 150.000-400.000 tiểu cầu/mm³ máu. Tiểu cầu có vai trò quan trọng trong quá trình đông máu, cầm máu. Khi số lượng tiểu cầu giảm dưới 100.000/mm³ máu thì nguy cơ xuất huyết tăng lên. Quan trọng hơn, những hoạt chất trong lá đu đủ còn có khả năng cải thiện và phục hồi chức năng gan đã bị suy sụp.

Bác sĩ S. Bajaj, thuộc Bệnh viện Bombay, Ấn độ, cũng dẫn chứng 1 bệnh nhân bị sốt xuất huyết nhập viện đã 3 ngày, sốt không giảm, lượng tiểu huyết cầu giảm xuống còn 28.000. Tuy nhiên, khi cho uống nước cốt lá đu đủ, tiểu cầu từ từ tăng lên. Sau 3 ngày, bệnh nhân đã hồi phục.

Cách dùng: Dùng 2 lá tươi, rửa sạch, bỏ cọng, giã nát, lọc lấy nước uống. Người lớn dùng mỗi lần 10ml, ngày 2 lần. Trẻ em từ 5 đến 12 tuổi dùng liều 5ml mỗi lần.

(Sưu tầm và biên tập từ nhiều nguồn)

Một số bài thuốc YHCT khác chống sốt xuất huyết

Sốt xuất huyết theo y học cổ truyền là loại bệnh ban hoặc bệnh chẩn:

Ban chẩn thuộc dương chứng, nhưng dinh khí đi nghịch làm hư hỏa bốc bên trong, làm thương tổn chân âm, tỳ vị không kiện vận, không thống nhiếp huyết được nên xuất hiện dấu chứng ban chẩn (dấu xung huyết).
Ở mức độ nặng hơn tác động vào phần huyết gây xuất huyết (huyết thoát khỏi thành mạch). Khi tình trạng xuất huyết nhiều, bệnh chuyển sang giai đoạn nặng y học cổ truyền gọi là chứng nhiệt quyết, xuất hiện triệu chứng thân mình nóng, tay chân lạnh; nếu chân âm thương tổn nặng sẽ chuyển sang giai đoạn hàn quyết, thân mình và tay chân lạnh.
Y học cổ truyền xếp bệnh sốt xuất huyết vào nhóm ôn bệnh và ôn dịch vì có khả năng lây lan thành dịch bệnh. Nguyên nhân do nhiệt độc tấn công vào cơ thể, nếu tấn công vào :

  • Phần vệ gây sốt cao.
  • Phần dinh gây ban chẩn.

Nặng hơn chuyển sang chứng quyết :

  • Nhiệt quyết : sốt cao, chảy máu răng, chảy máu cam, tay chân lạnh.
  • Hàn quyết : chảy máu nhiều nơi, thân mình và tay chân lạnh.

Khi xảy ra dịch bệnh hoặc ở những nơi có nguy cơ sốt xuất huyết, nếu thấy bệnh nhân có xuất hiện ban chẩn, thì cần lưu ý các dấu chứng sau:

  • Sốt cao.
  • Ban điểm là những chấm, những nốt nổi trên da, khi ấn vào không lặn, đây là dấu chứng báo hiệu tình trạng xung huyết, dấu chứng này cũng xuất hiện. khi làm dấu hiệu dây thắt.
  • Ban điểm này sẽ lan ra thành những mảng bầm, xuất hiện một cách tự nhiên hay khi tiêm chích.
  • Xuất huyết: Chảy máu mũi, chảy máu chân răng.
  • Xuất huyết nội tạng: Nôn ra máu, tiêu ra máu, tiểu ra máu, xuất huyết âm đạo.
  • Rối loạn tri giác.
  • Mạch tế sác: mạch nhanh nhỏ khó bắt hoặc không bắt được, huyết áp tụt.

Kim ngân hoa thanh nhiệt, giải độc, chống nhiễm trùng

Trong thời kỳ xuất hiện ban chẩn, sốt cao. Các dấu chứng trên xuất hiện nhiều hay ít, có hay không có, sẽ biểu hiện mức độ nặng nhẹ của sốt xuất huyết.

Độ 1 : Sốt + Ban chẩn

Độ2 : Sốt + Ban chẩn + Xuất huyết
Độ 3: Sốt + Ban chẩn + Xuất huyết + Sốc nhẹ
Độ 4: Sốt + Ban chẩn + Xuất huyết + Sốc nặng
3. Các dấu chứng cần cảnh báo:

  • Đang sốt hạ sốt đột ngột.
  • Taychân mát lạnh.
  • Đau bụng dữ dội.
  • Tiểu ít.
  • Bứt rứt, vật vã.

Y học cổ truyền sẽ góp phần điều trị tích cực sốt xuất huyết ở độ 1, độ 2.
Nếu bệnh nhân chuyển sang độ 3, độ 4 cấp cứu tây y, có thể kết hợp với y học cổ truyền.

Một số bài thuốc y học cổ truyền góp phần điều trị sốt xuất huyết:

Bài thuốc 1 :

1. Lá cúc tần: 12g
Hạ sốt
2. Cỏ mực (cỏ nhọ nồi): 16g
Cầm máu
3. Mã đề: 16g
Lợi tiểu
4. Trắc bá diệp (sao đen): 16g
Cầm máu
5. Sắn dây củ (cát căn) 20g
Thanh nhiệt
6. Rau má 16g
Nhuận gan, thanh nhiệt
7. Lá tre 16g
Hạ sốt, thanh nhiệt
8. Gừng tươi 03 lát
Kích thích tiêu hóa, chống nôn, ôn vị, giải biểu, giải độc

Nếu không có Sắn dây củ thì thay bằng Lá dâu 16g.
Nếu không có Trắc bá diệp thì thay bằng Lá sen sao đen 12g, hoặc kinh giới sao đen 12g.
Cách dùng : cho 600 ml nước sạch, đun sôi 30 phút, để ấm, uống ngày 03 lần.

 Bài thuốc 2

1. Cỏ mực (sao vàng) 20g
Chỉ huyết, nhuận huyết
2. Cấi xay (sao vàng) 12g
Lợi tiểu, hạ sốt, giải độc.
3. Rễ tranh 20g
Lợi tiểu, hạ sốt, giải độc
4. Sài đất 20g
Thanh nhiệt, giải độc, chống nhiễm trùng
5. Kim ngân hoa 12g
Thanh nhiệt, giải độc, chống nhiễm trùng
6. Hạ khô thảo (sao) 12g
Lơi tiểu, thanh nhiệt, thanh can hỏa
7. Hoa hòe 10g
Cầm máu
8. Gừng tươi 03 lát
Kích thích tiêu hóa, chống nôn, ôn vị, giải biểu, giải độc
Cách dùng : cho 600 ml nước sạch, đun sôi 30 phút, để ấm, uống ngày 03 lần.

Bài thuốc 3 :

Cỏ mực (sao vàng) 20g
Chỉ huyết, nhuận huyết
Cam thảo 06g
Thanh nhiệt,giải độc
Họat thạch 12g
Lợi tiểu, hạ sốt
Mã đề 16g
Lợi tiểu
Gừng tươi 03 lát
Kích thích tiêu hóa, chống nôn, ôn vị, giải biểu, giải độc

Nếu không có hoạt thạch thì thay bằng cối xay 12g.
Nếu không có Mã đề thì thay bằng lá tre 16g.
Cách dùng : cho 600 ml nước sạch, đun sôi 30 phút, để ấm, uống ngày 03 lần. Nếu hết sốt thì ngưng thuốc ngay.

Bài thuốc 4 :

1. Họat thạch 06 phần
Lợi tiểu, hạ sốt
2. Cam thảo 01 phần
Cách dùng : tán bột trộn đều, uống ngày 03 lần, mỗi lần uống 01 muỗng cà phê, hết sốt ngưng thuốc ngay.

Các bài thuốc trên điều trị cho trẻ em liều dùng như sau :
Trẻ em từ 1-5 tuổi : liều bằng 1/3 liều người lớn.
Trẻ em từ 6-13 tuổi : liều bằng 1/2 liều người lớn.
Trẻ em 14 tuổi trở lên : liều bằng người lớn.
Trẻ còn bú mẹ : cho mẹ uống thuốc qua sữa điều trị cho con.
Trong quá trình theo dõi và chăm sóc bệnh nhân sốt xuất huyết, cần nên lưu ý những điều nên làm và không nên làm

Nên làm:
* Hạ Sốt : Lau ấm, mặc đồ thóang mát, nơi kín gió có thể cởi đồ trẻ, đắp bằng vải mỏng.
* Bù nước : nước thường, nước trái cây, Orésol.
* Cho ăn nhẹ, nếu trẻ chịu ăn.
* Khi thấy xuất hiện dấu chứng có chiều hướng nặng hơn, đưa ngay trẻ đến bệnh viện.

Không nên làm :
* Cạo gió, chích lễ.
* Không sử dụng thuốc hạ sốt Aspirin.

Tóm lại:
* Không phải tất cả các trường hợp sốt xuất huyết là nặng.
* Y học cổ truyền góp phần điều trị sốt xuất huyết ở độ 1, 2, điều trị kết hợp ở độ 3, 4.
* Chẩn đoán sớm, điều trị tích cực, chăm sóc tốt có thể giúp người bệnh hồi phục, giảm nguy cơ tử vong.

(Viện Y Dược Học Dân Tộc TP.HCM)

Thuốc nam hỗ trợ điều trị sốt xuất huyết

Ở nông thôn nước ta có nhiều cây cỏ là dược liệu rất quý có thể hỗ trợ điều trị bệnh sốt xuất huyết

Giai đoạn đầu chủ yếu của bệnh sốt xuất huyết là sốt, đau đầu, đau mình… (chưa biểu hiện xuất huyết). Ở giai đoạn này, theo Thầy thuốc Nhân dân, bác sĩ Trần Văn Bản ở Trung ương Hội Đông y Việt Nam, bài thuốc sau đây rất tốt cho việc hỗ trợ điều trị: Lá tre, lá rau má, lá sen, hạt biển đậu, đậu đen, mỗi thứ 50 g; hoa hòe, vỏ cây núc nác, củ mạch môn, mỗi thứ 30 g. Sắc lấy nước uống chia đều ngày 6 lần.

Ở giai đoạn xuất huyết dưới da thì dùng bài thuốc: Lá tre, lá rau má, lá sen, lá huyết dụ, hạt biển đậu, đậu đen, cỏ nhọ nồi, lá trắc bá diệp, mỗi thứ  50 g; hoa hòe, vỏ cây núc nác, củ mạch môn, mỗi thứ 30 g. Sắc lấy nước uống chia đều ngày 6 lần.

Ngoài ra, khi bị sốt xuất huyết nên lưu ý ăn thức ăn mềm, dễ tiêu; không ăn những thứ cay nóng, đu đủ, chuối tiêu; giữ vệ sinh chung, tránh lây nhiễm; nghỉ ngơi, xây dựng chế độ ăn thích hợp, tăng đạm.

(Nguồn: suckhoedinhduong.nld.com.vn)