Bài thuốc bổ nguyên khí cho người hóa trị

SKĐS – Những bài thuốc dưới đây sẽ giúp bồi bổ nguyên khí cho các bệnh nhân điều trị hóa trị do mắc bệnh ung thư.

Những bài thuốc dưới đây sẽ giúp bồi bổ nguyên khí cho các bệnh nhân điều trị hóa trị do mắc bệnh ung thư.

Sơn dược

Sơn dược, một vị thuốc đông y giúp bồi bổ nguyên khí

Hóa trị gây tổn thương nguyên khí con người là “mắt thấy tai nghe”. Chỉ cần thực hiện hóa trị liệu pháp, lập tức sẽ xuất hiện các chứng khí huyết hư tổn, tổn thương nguyên khí như: giảm tiểu cầu, rụng tóc, tức ngực, nôn ói, toàn thân mỏi mệt mất sức… Nếu không chỉnh đốn kịp thời, khí huyết không cách hồi phục, không chỉ bản thân người bệnh cảm thấy khó chịu, hơn nữa ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc tiếp tục tiến hành hóa trị. Hơn thế nữa, do khí huyết suy nhược thái quá, tế bào ung thư “thừa thắng xông lên”, người bệnh tất khó thoát khỏi “trời kêu ai nấy dạ”.

Do vậy, sau khi hóa trị cần lập tức đại bổ nguyên khí, dùng bài thuốc:

Hoàng kỳ 30g, đảng sâm 30g, sa sâm 15g, bạch truật 12g, phục linh 15g, câu kỷ tử 12g, nữ trinh tử 15g, mạch đông 12g, thục địa 15g, sơn dược 30g, kê huyết đằng 30g, cam thảo 6g. Sắc uống, ngày 1 thang, uống sáng và chiều.

Hoàng kỳ

Hoàng kỳ

Nếu hóa trị tổn thương nguyên khí hơi nhiều, đã hình thành tỳ thận lưỡng hư, nên dùng bài thuốc như sau để đại bổ tỳ thận:

Hoàng kỳ 30g, đảng sâm 30g, ý dĩ 30g, táo đỏ 30g, phục linh 20g, đương quy 15g, kê huyết đằng 15g, bổ cốt chi 15g, bạch truật (thán) 15g, nữ trinh tử 15g, câu kỷ tử 15g, tiên mao 12g, tiên linh tỳ 12g, bạch thược (sao) 10g, tử hà sa 10g, chích thảo 5g. Sắc uống, ngày 1 thang, uống sáng và chiều.

Táo đỏ
Táo đỏ
Nữ trinh tử
Nữ trinh tử

Trong thời gian hóa trị, phần lớn người bệnh đều sẽ xuất hiện những triệu chứng đường tiêu hóa như: chán ăn, tức ngực buồn nôn, đầy bụng tiêu chảy, đó là những tác dụng phụ của thuốc trong thời gian hóa trị. Đông y cho rằng, đấy là “thuốc độc” (hóa trị) đi vào cơ thể, gây tổn thương khí của tỳ vị, tạo thành những rối loạn và tổn thương khí tỳ vị gây nên. Tất phải bổ khí của tỳ vị là chính, kèm với điều thuận khí cơ tỳ vị, làm cho khí cơ hạ hành, để phù hợp với đặc điểm sinh lý của vị khí là “vĩ giáng vi thuận”. Có vậy, những triệu chứng tức ngực buồn nôn, bụng đầy tiêu chảy… tự nhiên sẽ giảm nhẹ hoặc biến mất. Dùng bài thuốc:

Đảng sâm 30g, hoàng kỳ 30g, câu kỷ tử 15g, bạch truật 12g, kê huyết đằng 30g, phục linh 30g, thần khúc 10g, trần bì 10g, đương quy 15g, bổ cốt chi 15g, thỏ ty tử 20g, cam thảo 10g. Sắc uống, ngày 1 thang, uống sáng và chiều. Bắt đầu dùng trước hóa trị 3 – 5 ngày, dùng liên tục đến khi kết thúc hóa trị khoảng 1 tuần. Có thể giúp giảm nhẹ “phản ứng” của đường ruột, còn giúp giảm rụng tóc.

Bổ cốt chỉ
Bổ cốt chỉ

Trong thời gian hóa trị, nếu ảnh hưởng chức năng tạo máu xương tủy hơi nghiêm trọng, xét nghiệm máu thấy giảm bạch cầu, đồng thời người bệnh cảm thấy uể oải mất sức, sắc mặt vàng bủn, choáng váng hoa mắt, hồi hộp thở ngắn, mất ngủ mộng nhiều, mặt mắt sắc lợt, môi nhạt, móng tay và lưỡi đều hồng nhạt hay trắng nhạt. Đông y cho rằng, lúc này dùng thuốc tẩm bổ nên coi trọng tăng nặng bổ huyết:

Nhân sâm 10g, mạch đông 15g, sinh địa 20g, a giao 15g (đun hòa tan), đại táo 6 quả. Sắc uống, ngày 1 thang, uống sáng và chiều.

Mạch Đông
Mạch Đông

Nếu người bệnh khẩu vị cực kém, có thể giảm lượng a giao, dùng khoảng 6 – 10g. Hoặc chọn dùng bài thuốc dưới đây:

Hoàng kỳ 40g, đương quy 10g, kê huyết đằng 30g, bạch truật 15g, câu kỷ tử 10g. Sắc uống, ngày 1 thang, uống sáng và chiều.

(LY.DS. BÀNG CẨM)

BỒ TRUNG ÍCH KHÍ THANG

BỒ TRUNG ÍCH KHÍ THANG

( Tỳ vị luận)

Thành phần:

Hoàng kỳ 20g

Chích thảo 4g

Thăng ma 4 – 6g

Đảng sâm 12 – 16g

Đương qui 12g

Sài hồ 6 – 10g

Bạch truật 12g

Trần bì 4 – 6g

Cách dùng: sắc nước uống.

Tác dụng: Điều bổ tỳ vị, thăng dương ích khí.

Giải thích bài thuốc:

Là bài thuốc chủ yếu chữa tỳ vị khí hư hạ hãm, sinh ra triệu chứng sa nội tạng như sa dạ dày, sa tử cung, sa trực tràng hoặc chứng tỳ khí hư không nhiếp thống được huyết gây chứng rong kinh ở phụ nữ hoặc kiết lị kéo dài. Trong bài:

  • Hoàng kỳ bổ trung ích khí, thăng dương cố biểu là chủ dược.
  • Đảng sâm, Bạch truật, Chích thảo ích khí bổ tỳ kiện vị.
  • Trần bì lý khí hóa trệ.
  • Thăng ma, Sài hồ hợp với Sâm Kỳ để ích khí thăng đề.
  • Đương qui bổ huyết hòa vinh.

Các vị thuốc hợp lại thành bài thuốc có tác dụng bổ trung ích khí, thăng dương cố biểu làm cho tỳ vị được cường tráng, trung khí được đầy đủ.

Ứng dụng lâm sàng:

  1. Trên lâm sàng bài thuốc có thể dùng để chữa cơ thể vốn hư nhược dễ bị cảm mạo, mệt mỏi ra mồ hôi.
  2. Những trường hợp khí hư hạ hãm gây nên các chứng sa nội tạng như sa tử cung, sa thận, sa dạ dày, thoát vị bẹn hoặc sụp mi; dùng bài thuốc gia thêm Chỉ xác hoặc Chỉ thực có kết quả tốt.
  3. Trường hợp bệnh đường ruột mạn tính, rối loạn tiêu hóa kéo dài, cơ thể hư nhược có thể dùng bài này có hiệu quả tốt.
  4. Trường hợp do khí huyết hư nhược gây nên sốt kéo dài cũng có thể dùng bài thuốc này có kết quả, gọi là phép chữa” Cam ôn trừ đại nhiệt”.

Biến phương của bổ trung ích khí

1.Sâm truật ích vị thang (Tỳ vị luận – Lý Đông Viên), tăng đôi lượng Bạch truật, thêm : Bán hạHoàng cầmÍch trí nhân.
Chủ trị : Hư lao, ăn không biết ngon, đại tiểu tiện rối loạn.
Dược : Thương truật 30g, Hoàng kỳ 15g, Nhân sâmĐương quy thân, Thăng ma đều 10g, Trần  7g, Sài hồ, Chích Cam thảo đều 5g,Hoàng cầmIch trí nhânBán hạ đều 3g, Đại táo 4 quả, Sinh khương 3 lát. Sắc uống.

2.Thăng dương thuận khí thang (Nội ngoại thương biện hoặc luận, quyển thượng – Lý Đông Viên), bỏ Bạch truật, thêm : Thảo đậu khấuThần khúcBán hạHoàng bá.
Chủ trị : Thiếu hơi, biếng ăn, đầy trướng. Dược : Hoàng kỳ 40g, Nhân sâmBán hạ đều 12g, Thần khúc 6g, Sài hồĐương quyThăng maTrần bì đều 4g, Hoàng báCam thảo đều 2g, Đại táo 2 quả, Gừng 3 lát.
Tên khác : Cường vị thang (Tỳ vị luận).

3. Ích vị thăng dương thang (Lan thất bí tàng, Phụ nhân môn – Lý Đông Viên), thêm : Hoàng cầm sao, Thần khúc.
Công dụng : Ích khí, thăng dương, dưỡng huyết, điều kinh.
Chủ trị : Kinh nguyệt không đều, hoặc sau khi mất máu, ăn ít, băng lậu, huyết ra rỉ rả, tiêu chảy. Dược : Hoàng kỳ nướng 15g, Nhân sâm,Hoàng cầmThần khúcCam thảo nướng đều 10g, Bạch truật sao, Đương quyTrần bì đều 5g, Sài hồThăng ma đều 4g. Tán. Ngày uống 12-16g với nước sắc Sinh khươngĐại táo.

4. Điều trung ích khí thang (Lan thất bí tàng, Ẩm thực lao quyện môn – Lý Đông Viên), bỏ : Bạch truậtĐương quy; thêm : Mộc hương,Thương truật.
Chủ trị : Tỳ vị không đều, ngực đầy, tay chân mỏi, ít ăn, thiếu hơi, ăn không ngon, ăn vào hay nôn.
Dược : Hoàng kỳ 15g, Nhân sâm, Chích Cam thảo đều 10g, Thương truậtTrần bì đều 5g, Mộc hươngSài hồThăng ma đều 2g, Đại táo5 quả, Sinh khương 3 lát.

5. Điều trung bổ khí thang (Lý Đông Viên), thêm : Bạch thượcNgũ vị tử.

6.Bổ trung gia hoàng bá địa hoàng thang (Tuyên minh luận – Lưu Hà Gian), thêm : Hoàng báSinh địa.
Chủ trị : Chứng âm hoả, sốt ngày nặng hơn đêm, tự ra mồ hôi, hơi thở ngắn, biếng ăn.
Dược : Bạch truậtHoàng kỳ đều 18g, Nhân sâmĐương quyThăng ma đều 12g, Sinh địa 9g, Sài hồHoàng báCam thảo đều 6g, Trần bì 8g. Sắc uống.

7.Thuận khí hoà trung thang (Vệ sinh bảo giám, quyển 9 – La Thiên Ích), thêm : Bạch thượcTế tânXuyên khungMạn kinh tử.
Chủ trị : Thanh dương không thăng, phần khí bị hư, đau đầu.
Dược : Hoàng kỳ 15g, Nhân sâm, Chích Cam thảo đều 10g, Bạch truậtBạch thượcĐương quyTrần bì đều 5g, Sài hồThăng ma,Xuyên khungMạn kinh tửTế tân đều 2g, Đại táo 4 quả, Sinh khương 3 lát. Sắc uống.

8. Điều vinh dưỡng vệ thang (Đông Viên thập thư – Lý Đông Viên), thêm : Khương hoạtPhòng phongTế tânXuyên khung.
Chủ trị : Lao lực và thương hàn, nhức đầu, gai rét, khát, ra mồ hôi, mạch phù không lực.
Dược : Hoàng kỳ, Chích Cam thảo đều 10g, Nhân sâmBạch truậtKhương hoạtĐương quy thân, Xuyên khungTrần bì đều 5g, Sài hồ,Thăng maPhòng phongTế tân đều 2g, Đại táo 5 quả, Sinh khương 3 lát. Sắc uống.

Ý kiến của Hải thượng Lãn Ông về Bổ trung ích khí thang :
1.“Lãn tôi xét : Bài thuốc Bổ trung ích khí thang do ông Lý Đông Viên đặt ra, mục đích để điều trị chứng dương hư phát sốt, và người vốn hư mà lại bị cảm mạo, nội thương kèm với ngoại cảm, v.v… . Dương hư thì hãm xuống, tà khí liền thừa hư mà vào, cho nên chủ chốt bài này là ’thăng đề dương khí’, khiến cho trung khí mạnh lên thì tà sẽ không cần đánh mà tự lui … . Bài thuốc này không phải có tác dụng bổ khí huyết, cũng không phải là bài thuốc có thể uống lâu ngày, khá tiếc là có nhiều người không chịu xét rõ âm dương hư thực và nội thương ngoại cảm … hễ thấy phát sốt là dùng ngay bài Bổ trung ích khí và tự cho là ổn, thật là quá sai lầm ! Xem nội dung bài thuốc thì : Bạch truật bổ dương khí của vị; Nhân sâmHoàng kỳ bổ tỳ mà kiêm bổ phế; Đương quy bổ âm huyết của tỳ khiến cho thổ đầy đủ đức khôn nhu mới có thể sinh ra được mọi vật; Chích thảo có tác dụng ôn trung và làm điều hoà các vị thuốc kia cho trung châu được nhờ sự bổ ích; lại e tính của các vị thuốc bổ phần nhiều nê trệ, cho nên lại dùng Trần bì cho nó dẫn; thêm ít ThăngSài làm sứ, một mặt để dẫn cái sức của Sâm Kỳ, đồng thời cũng làm cho khí dương hạ hãm được thăng lên. Nếu dùng bài Bổ trung ích khí mà lại bỏ 2 vịThăngSài thì thật là không hiểu rõ ý nghĩa của bài Bổ trung ích khí thang. (Huyền tẫn phát vi – Hải Thượng Lãn Ông)

2.“Nghĩ như tiên thiên với hậu thiên không thể chia rẽ làm hai đường, nguyên khí ở thượng tiêu mà bất túc là do hãm xuống ở trong thận, cần phải dẫn nó lên từ dưới bộ phận chí âm. Hạ tiêu chân âm bất túc là do nó bay bổng lên bộ phận trên, lại không dẫn nó trở về nguồn được sao ? Vì lý do đó, bài Bổ trung ích khí với bài Thận khí hoàn rất nên cùng sử dụng. Uống buổi sáng để bổ dương, uống buổi tối để bổ âm, cùng nương tựa để cùng bồi dưỡng”. (Huyền tẫn phát vi – Hải Thượng Lãn Ông)

3.“Tạng tỳ không hoá được thức ăn nên trong bụng đầy. Khí của tạng ấy không vận hoá được thì ngưng trệ mà thành đờm. Bốn chân tay thuộc tạng tỳ, dương của tạng tỳ chủ về khí, âm của tạng tỳ chủ về huyết, khí huyết không chu lưu đều nên đầu ngón chân tay tê. Chứng tê ấy không nên dùng các vị Chỉ xácSơn traMạch nhaThần khúc mà nên dùng bài Bổ trung ích khí thêm Bán hạPhục linh rất thần hiệu”. (Châu ngọc cách ngôn – Hải Thượng Lãn Ông)

4.Dương khí ở hạ tiêu tức là khí của dạ dày và hậu thiên, dương vốn thăng nếu yếu thì giáng, nên dùng bài Bổ trung ích khí để đem dương khí trở lên”. (Châu ngọc cách ngôn – Hải Thượng Lãn Ông)

(Sưu tầm)

 

Bài thuốc trị chứng lạnh tay chân

Theo đông y lạnh chân tay nguyên nhân là do thận dương suy yếu, tỳ hư. Bệnh có thể chữa khỏi bằng một vài bài thuốc nam dưới đây.

Lạnh chân tay thường xảy ra vào mùa đông và thường gặp ở người cao tuổi, người bị suy nhược cơ thể, phụ nữ, người lao động chân tay nhiều, thường xuyên phải tiếp xúc nước lạnh, môi trường ẩm ướt… khiến kinh mạch bị ứ trệ, khí huyết kém lưu thông gây nên các triệu chứng tê mỏi, chân tay lạnh ngắt, các khớp đau nhức. Đông y cho rằng nguyên nhân là do thận dương suy yếu, do tỳ hư. Xin giới thiệu một số bài thuốc Nam điều trị chứng bệnh này.

Lạnh tay chân do thận dương suy yếu:

Biểu hiện lạnh tay chân, đau lưng mỏi gối, da xanh, sức yếu, ăn uống kém, hay bị hoa mắt chóng mặt. Nếu là nam giới dễ bị tảo tiết, ngủ mơ, tim hồi hộp. Phép trị là ôn bổ thận dương. Dùng một trong các bài thuốc:

Bài 1: phá cố chỉ 6g, nhục thung dung 10g, ngũ gia bì 16g, sơn thù 12g, tần giao 12g, hoàng kỳ 12g, mẫu lệ chế 16g, hoài sơn 16g, liên nhục 16g, đại táo 3 quả, ngải diệp 12g, trần bì 10g, cam thảo 10g, quế 10g. Sắc uống ngày 1 thang, sắc 3 lần uống 3 lần. Công dụng: bồi bổ thận dương, hỏa khí ở thận được củng cố và tăng cường, trị lạnh tay chân, đau lưng mỏi gối.

Bài 2: thục địa (sao khô) 12g, đậu đen (sao thơm) 16g, ngũ gia bì 16g, cẩu tích 12g, ngải diệp 16g, hoài sơn 16g, liên nhục 16g, khởi tử 12g, thỏ ty tử 12g, phá cố chỉ 10g, quế 8g, thiên niên kiện 10g, trần bì 10g, đại táo 3 quả, sinh khương 4g, phòng sâm 12g, cam thảo 12g, ngũ vị 12g. Sắc uống ngày 1 thang chia 3 lần. Công dụng: bồi bổ thận dương, hỏa khí được phục hồi. Bài này rất tốt với những người bệnh đau lưng mỏi gối, lạnh tay chân, cơ bắp yếu mềm, di tinh hoạt tinh, tim hồi hộp, tư tưởng thiếu tập trung.

Bài 3: phòng sâm 12g, đương quy 12g, thục địa 10g, liên nhục 12g, tơ hồng xanh 16g, cẩu tích 16g, phụ tử 6g, sinh khương 4g, ngải diệp (khô) 12g, tần giao 12g, tế tân 10g, dâm dương hoắc 10g, trạch tả 12g, sơn thù 16g, tất bát 12g, lương khương 10g, chích thảo 12g, hoàng kỳ 10g. Sắc uống ngày 1 thang, sắc 3 lần uống 3 lần. 10 – 13 ngày là một liệu trình. Công dụng: bổ thận dương, tăng dương khí, trị lạnh tay chân.

Lạnh tay chân do tỳ hư:

Biểu hiện chân tay lạnh, dày da bụng, da xanh, môi nhợt, bụng đau âm ỉ, thỉnh thoảng sôi bụng, phân lỏng, ăn uống kém, chân tay yếu mềm. Phép trị là ôn bổ tỳ dương. Dùng một trong các bài thuốc:

Bài 1: bạch truật (sao hoàng thổ) 16g, hoài sơn 16g, liên nhục 16g, trần bì 12g, đại táo 6 quả, củ đinh lăng 16g, ngũ gia bì 12g, quế chi 8g, sa nhân 10g, hoàng kỳ (sao mật) 12g, sinh khương 4g, chích thảo 12g, đương quy 12g, hậu phác 10g, thần khúc 10g. Sắc uống ngày 1 thang chia 3 lần. Công dụng: bổ tỳ dương, bổ thổ, bổ trung châu, trị lạnh tay chân.

Bài 2: cao lương khương 12g, ngũ gia bì 12g, ngải diệp 10g, bạch truật 16g, đương quy 12g, hậu phác 10g, sinh khương 6g, phòng sâm 16g, hà thủ ô 16g, rễ đinh lăng 16g, cây ngấy hương 16g, trần bì 10g, thần khúc 10g, chích thảo 12g, quế chi 8g, đại táo 6 quả. Sắc uống ngày 1 thang, sắc 3 lần uống 3 lần. Công dụng: bổ tỳ dương, phục hồi và củng cố chức năng của tỳ vị, trị lạnh tay chân.

Lương y Trnh Văn S

(Theo Sc khe & Đi sng)

Bài thuốc trị khi bị rắn cắn

images690111_randoc1

Rắn là loài động vật hoang dã, thuộc giống bò sát. Rắn sống trong môi trường hoang dã, ít khi tấn công người mà chỉ khi bị săn đuổi hoặc đột ngột gặp người nó mới tấn công để tự vệ. Khi bị rắn cắn cần phân biệt rắn có nọc độc và rắn không có nọc độc. Vết cắn của rắn không có nọc độc thì có hình cả hàm răng, còn rắn độc cắn để lại vết thương rõ 2 nốt răng nanh ở vùng bị cắn

cây Kim Vàng
cây Kim Vàng

 Để điều trị rắn rết cắn, dân gian có những bài thuốc rất hiệu nghiệm. Xin giới thiệu bài thuốc của mế Nguyễn Thị Chùi – Hoà Bình – “lấy độc trị độc” chữa rắn rết cắn: khi bị cắn lấy ngay 5 củ Hành tăm, lá Ớt, giã nhỏ đắp nơi bị rắn rết cắn, hết nhức thì tháo bỏ đi. Ngày làm 1 – 2 lần đến khi hết đau, thường thì 15- 30 phút là hết đau, 2 – 3 giờ khỏi. Hành tăm có tác dụng giải độc thông kinh lạc, lá Ớt có tác dụng hoạt huyết, sát trùng lợi tiểu.

Để trị rắn độc cắn dân gian  còn có hai bài thuốc dùng các cây cỏ quanh ta và Phèn chua như sau:

Bài 1: Cụ Nguyễn Hữu Triệu ở tỉnh Hoà Bình đã đúc kết bài thuốc chữa rắn độc cắn  thành bài thơ dễ nhớ sau đây:

Lá Lưỡi hùm, rễ Cỏ may

Chữa rắn độc cắn, khỏi ngay tức thì

Đều một nắm giã nát đi

Nước sôi bẩy chục mili pha rồi

Lắng trong cho uống một hơi

Còn bã đắp vết thương ngoài băng lên

Nửa giờ sau hết đau rên

Uống thêm lần nữa bệnh liền đoạn căn

Tôi từng kinh tự bao lần

Để xin giới thiệu khi cần dùng ngay.

Lá Lưỡi hùm tức lá cây Cam xũng, còn gọi là Lưỡi hổ hay lá Lưỡi cạp. Tên khoa học Sauropus rostratus mip… thuộc họ Thầu dầu thường dùng chữa trẻ em cam xũng phù nề, đi ngoài, có tác dụng chữa dị ứng; rễ Cỏ may có tác dụng tiêu độc, giải nhiệt lợi tiểu. Kết hợp lá Lưỡi hùm với rễ Cỏ may chữa rắn độc cắn là một bài thuốc độc đáo của cụ Triệu mà cụ đã chữa khỏi cho nhiều người. Cụ Triệu rất tâm đắc viết thành bài thơ mong phổ biến rộng rãi trong quần chúng.

Bài 2: Vườn Y học dân tộc Đắc Lắc đã ứng dụng chữa trị nhiều năm nay bài thuốc dân gian gồm hai vị cây Kim vàng và Phèn chua. Bài thuốc có tên là “KVP”. Cây Kim vàng có tên khoa học là Barleria Lupulina linal thuộc họ Ôrô, có nguồn gốc từ Madagaxca Châu Phi di thực sang Việt Nam còn được gọi là Gai kim vàng, Trâm vàng lá thon nhỏ, gai dài nhọn, hoa vàng tươi, thường được trồng thay cây cảnh. Lá có tác dụng tiêu độc, tiêu đờm hạ khí, bài trùng khu phong trục huyết đau tức ngực bụng tay chân tê bại. Phèn chua là loại hoá chất dễ tìm.

Khi bị rắn độc cắn cần sơ cứu garo trên vị trí rắn cắn, trích rạch chỗ rắn cắn, dùng ống giác hoặc hạt giót màu đỏ tươi áp vào chỗ rạch để hút máu bầm, giã mịn 20g lá Kim vàng (lá bánh tẻ) và 5g Phèn chua lọc nước cho bệnh nhân uống, cứ 15 – 30 phút uống một lần, sau đó 2 giờ uống một lần, tuỳ mức độ nặng nhẹ mà thôi uống khi thấy bệnh trạng đã ổn định, thường là sau 2 –3 ngày. Nếu vết thương nhiễm trùng thì dùng kháng sinh.

Bài thuốc này, Viện y học dân tộc Đắc Lắc trong 5 năm (1995 – 1999) đã chữa 410 ca, có 404 ca khỏi hẳn chỉ có một ca tử vong vì tình trạng bệnh nhân quá nặng lại ở xa nên đến viện thì quá muộn và có 4 ca khác phải chuyển viện để điều trị. Tại các hội nghị về thừa kế Y học cổ truyền tại Đắc Lắc, các bác sĩ Hoàng Đình Quý, Cao Minh Toàn, Nguyễn Thị Vân đã tích cực phổ biến giá trị bài thuốc cây Kim vàng và Phèn chua điều trị rắn độc cắn. Khuyến khích mọi người trồng cây Kim vàng và dùng bài thuốc trên khi bị rắn độc cắn. Lương y Nguyễn Văn Dũng đã dùng bài thuốc trên cứu hơn 40 người bị rắn độc cắn trở về với cuộc sống đời thường.

(Nguồn: caythuocquy)