Vị thuốc từ vỏ thân cây gạo

b1-1459556619

Gạo là loại cây quen thuộc, mọc hoang khắp nơi trong nước ta. Các bộ phận của cây gạo như rễ, thân, hoa,… đều có thể dùng làm thuốc chữa bệnh. Trong bài viết này xin giới thiệu một số bài thuốc chữa bệnh từ vỏ thân cây gạo.

Gạo là loại cây quen thuộc, mọc hoang khắp nơi trong nướcta. Các bộ phận của cây gạo như rễ, thân, hoa,… đều có thể dùng làm thuốc chữabệnh. Trong bài viết này xin giới thiệu một số bài thuốc chữa bệnh từ vỏ thâncây gạo.

Theo y học cổ truyền, vỏ thân cây gạo có vị cay, tính bình,có tác dụng khu phong, trừ thấp, hoạt huyết tiêu thũng… Nhân dân thường thuhái vỏ cây gạo mang về cạo vỏ thô và gai, rửa sạch thái nhỏ phơi hay sấy khôsắc uống hay giã nát dùng tươi để chữa các chứng bệnh như viêm loét dạ dày,tiêu chảy, viêm đau khớp, chấn thương bong gân, gãy xương,…

Vỏ thân cây gạo thường được dùng chữa bong gân, sưng nề dochấn thương…

Đơn thuốc có sử dụng vỏ thân cây gạo

Chữa bong gân:

– Vỏ thân cây gạo 16g (cạo bỏ vỏ ngoài, sao rượu), lá lốt16g (sao vàng), sắc với 750ml nước, cô còn 250ml, chia uống 2 lần trong ngày.

– Vỏ thân cây gạo tươi, rau má tươi, vòi voi tươi và bồ cônganh tươi, bốn thứ lượng bằng nhau, rửa sạch, giã nát, bó vào chỗ sưng đau.

– Vỏ thân cây gạo tươi, lá náng, quả đu đủ non, ba thứ lượngbằng nhau, rửa sạch, giã nhuyễn, đắp vào chỗ sưng đau.

Sưng nề do chấn thương: Vỏ thân cây gạo 100g, củ nghệ vànggià 100g. Vỏ thân cây gạo băm nhỏ, giã nát, nghệ vàng thái mỏng, dùng giấmthanh và rượu cho vào sao rồi chườm hoặc đắp vào vùng bị sưng nề khi còn nóng.

Chữa tê thấp đau mỏi: Vỏ thân cây gạo, dây đau xương, thâncây bọt ếch, mỗi thứ 1kg; vỏ cây lá đắng 2kg. Tất cả thái nhỏ, phơi khô, sắcvới nước lấy 200ml cao lỏng. Hòa 200ml rượu và 100ml sirô vào cao để được nửalít thành phẩm. Ngày uống 50ml, chia 2 lần.

Giảm đau nhức xương khớp, đau cơ: Vỏ thân cây gạotươi 50g, cạo bỏ lớp vỏ bẩn bên ngoài, thái mỏng,giã nát, thêm giấm thanh,trộn đều rồi băng đắp vào chỗ đau.

Chữa đau răng: Vỏ thân cây gạo 15g, sắc đặc, ngậm nhiều lầntrong ngày.

Sưng đau vú sau khi sinh: Vỏ thân cây gạo 20g, sắc uống ngày1 lần. Dùng 3 – 5 ngày.

Chữa quai bị: Vỏ thân cây gạo 15g, sắc uống kết hợp với giãđắp bên ngoài ngày 1 lần có tác dụng thanh nhiệt, tiêu sưng, giảm đau rất tốt.

(Bác sĩ  Thu Vân – SKĐS)

Cây hoa gạo – thuốc kháng sinh và cầm máu quý

 

Các bộ phận của cây hoa gạo như hoa, vỏ cây, rễ và vỏ của rễ được dùng làm thuốc chữa bệnh vì chúng có công năng thanh nhiệt, giải độc, cầm máu, chủ trị các chứng bệnh tiêu chảy, kiết lỵ, băng huyết, chảy máu ở vết thương… Có thể sử dụng các bộ phận này khi còn tươi cũng như sau khi đã phơi khô.

Sau đây là một số bài thuốc từ cây hoa gạo:

  1. Chữa viêm phế quản mạn tính: Vỏ cây gạo 30 g, nấu lấy nước uống hết trong ngày.
  2. Chữa khạc hoặc nôn ra máu: Hoa gạo 14 bông, thêm đường phèn (nếu khạc ra máu) hoặc thêm thịt lợn nạc (nếu nôn ra máu) nấu lên ăn hết trong ngày.
  3. Chữa bệnh lỵ vi khuẩn, viêm dạ dày và ruột cấp tính, tiêu chảy, đại tiện ra máu:

– Hoa gạo 60 g, nấu lấy nước, pha mật ong hoặc đường phèn, đường trắng vào, uống hết trong ngày.

– Hoa gạo, hoa kim ngân, phượng vĩ thảo, mỗi thứ 15 g, sắc lấy nước uống hết trong ngày.

– Hoa gạo 15-30 g, sắc lấy nước uống chia ra 3 lần uống trong ngày.

  1. Chữa viêm dạ dày mạn tính, loét hoặc đau vùng dạ dày: Rễ hoặc vỏ cây gạo 15-30 g, nấu lấy nước uống mỗi ngày 1 thang.
  2. Chữa phù thũng sau khi sinh: Rễ hoặc vỏ thân cây gạo 15-30 g, sắc lấy nước uống hết trong ngày.
  3. Chữa bệnh sốt nóng của trẻ em: Hoa gạo 6 g, pha với nước sôi, cho thêm chút đường trắng vào uống thay nước, uống hết trong ngày.
  4. Chữa các bệnh viêm khớp hoặc tê đau do phong thấp, đau thắt lưng và đùi:

– Rễ cây hoa gạo 30-60 g, nấu lấy nước hoặc ngâm với rượu uống.

– Vỏ thân cây gạo 15 g, nấu lấy nước, bỏ bã, hòa vào chút rượu uống lúc nóng, mỗi ngày 2 lần.

  1. Chữa ngã hoặc chấn thương sưng đau: Vỏ rễ và vỏ thân cây gạo ngâm với rượu, xoa bóp ngoài hoặc đem giã nát đắp vào chỗ bị đau.
  2. Chữa ngứa bao tinh hoàn: Dùng vỏ cây gạo nấu lấy nước để rửa bao tinh hoàn.

BS Ngô Quang TháiNNVN

 

Thuốc từ cây hoa gạo

 

Cây hoa gạo còn gọi là mộc miên, bông gạo… tên khoa học Salmalia malabarica.

 

Theo Đông y hoa gạo có vị đắng chát hơi ngọt, tính bình, có công hiệu làm se, thu sáp, sát khuẩn, tiêu viêm, thông huyết nên được sử dụng làm thuốc chữa trị mụn nhọt. Dược liệu được thu hoạch từ những bông hoa gạo lành lặn đem sấy khô bằng lửa nhỏ hay phơi khô dưới nắng nhẹ cất đi sử dụng làm thuốc chữa trị bệnh.Cây hoa gạo còn gọi là mộc miên, bông gạo… tên khoa học Salmalia malabarica.

Để tham khảo và áp dụng dưới đây xin giới thiệu cụ thể các phương thuốc từ hoa gạo.

Chữa mụn nhọt sưng tấy: Lấy hoa gạo tươi, giã nát đắp vào nơi có mụn nhọt đang sưng tấy. Ngày đắp 1 – 2 lần sẽ hết đau nhức, chóng khỏi.

Chữa tiêu chảy, kiết lỵ: Hoa gạo 20 – 30g thái mỏng, sao vàng, sắc lấy nước uống ngày 1 thang, chia 2 lần. Hoặc có thể thêm rau má cũng 20 -30g, sắc uống ngày 1 thang, chia 2 lần (có thể cho vào nước thuốc chút đường cho dễ uống).

Cầm máu, thông tiểu: Lấy vỏ cây gạo 15 – 20g, thái nhỏ sao vàng sắc lấy nước uống ngày 1 thang, chia 2 lần.

Chữa ít sữa: Dùng hạt gạo 12 – 15g, sắc lấy nước cho phụ nữ sau sinh uống ngày 1 thang sẽ làm cho ra sữa.

Trị rong kinh, thiếu máu: Hoa gạo 30 – 50g (sao khô khử thổ sẫm sau khi đã phơi khô qua 3 nắng), sắc với 500ml nước còn lại 100ml, sắc nước 2 với 200ml nước, lấy 50ml thuốc hòa chung nước thuốc 1 và 2, sau chia 5 lần uống trong ngày. Cần uống 5 ngày liền.

Trị xuất huyết dạ dày: Phù hợp với người cao tuổi uống nhiều rượu bia mà sinh bệnh. Lấy nghệ 100g, hoa gạo 300g, rau má 150g, phơi khô 3 nắng, sau sắc với 750ml nước còn lại 150ml thuốc, chia 5 lần uống trong ngày, trước khi uống cho vào chút đường; uống liền từ 2- 4 tuần.

Hậu phẫu ruột, thiếu máu, yếu tim: Hoa gạo 500g, mía lau 500g (thái khúc dài 3cm), trà đen 20g (ngâm riêng với 20ml nước sôi chắt lấy nước cốt đặc), gừng già 15g giã nát, cho vào sắc chung với hoa gạo, mía lau, gừng già với 2 lít nước còn lại 800ml nước thuốc, lại cho vào nước cốt trà đen đun sôi trong 10 phút. Uống cả ngày vào khi khát. Cần uống liền 30 ngày.

Dùng người lao động nặng (mất sức, suy nhược cơ thể, thần kinh yếu choáng do thiếu máu): Hoa gạo 500g, bí đao tươi 500g (để nguyên cả vỏ ruột hạt), các vị trên băm nhỏ sao khử thổ, sau sắc với 2 lít nước lấy 1 lít nước thuốc chia 4 phần, uống vào các buổi sáng, trưa, chiều vào trước các bữa ăn và vào buổi tối trước khi đi ngủ.

Dùng cho thiếu niên dậy thì (mụn mọc nhiều trên mặt), phụ nữ than nhiệt nóng, nước tiểu vàng do gan, viêm họng ho khan có đờm trắng: Hoa gạo 500g, mía lau 500g, rau má 300g, bí đao 1kg (để cả vỏ hạt), băm nhỏ 4 thứ sao khử thổ cho vào sắc với 2 lít nước còn lại 1 lít nước thuốc, chắt ra còn bã lại cho 1 lít nước sắc còn 500ml, trộn lẫn 2 nước thuốc với nhau cùng 5g nước cốt gừng tươi. Khi khát uống thay nước trong ngày. Uống liền 10 ngày sẽ mát gan, lợi tiêu, hết nóng và mụn nhọt.

(BS. Hoàng Đại)

Advertisements

Cây ba chạc thanh nhiệt

SKĐS – Theo y học cổ truyền, ba chạc có tác dụng thanh nhiệt, chống ngứa, giảm đau… Lá và cành tươi nấu với nước để rửa các vết thương, vết loét, chốc đầu, chữa mẩn ngứa, ghẻ lở,…

Theo y học cổ truyền, ba chạc có tác dụng thanh nhiệt, chống ngứa, giảm đau… Lá và cành tươi nấu với nước để rửa các vết thương, vết loét, chốc đầu, chữa mẩn ngứa, ghẻ lở,… Thân và rễ thái lát phơi khô, dùng làm thuốc bổ đắng, ăn ngon, dễ tiêu, điều kinh, mỗi ngày dùng 4 – 12g, dạng thuốc sắc.

Cây ba chạc có tác dụng chống ngứa, giảm đau.

Ba chạc còn có tên khác là chè đắng, chè cỏ, cây dầu dầu. Cây nhỡ cao 2 – 8m, có nhánh màu đỏ tro. Lá có 3 lá chét, với lá chét nguyên. Cụm hoa ở nách các lá và ngắn hơn lá. Quả nang, thành cụm thưa, có 1 – 4 hạch nhẵn, nhăn nheo ở cạnh ngoài, chứa mỗi cái một hạt hình cầu đường kính 2mm, đen lam, bóng. Cây hoa ra hoa vào tháng 4 – 5. Quả tháng 6 – 7. Cây mọc hoang ở nhiều nơi trong nước ta, ở trên các đồi cây bụi, ở rìa rừng và trong rừng thưa, vùng đất núi và đồng bằng. Nghiên cứu cho thấy, rễ ba chạc chứa alcaloid, lá có tinh dầu thơm nhẹ.

Bộ phận dùng là thuốc là lá, cành, thân, rễ. Rễ và lá thu hái quanh năm đem về rửa sạch rễ thái nhỏ và phơi khô ngoài nắng. Lá sấy khô hay phơi trong râm.

Cây đơn buốt.

Một số bài thuốc thường dùng:

Bài 1: Dùng cho phụ nữ sau sinh (giúp ăn ngon, dễ tiêu) và lợi sữa: Rễ ba chạc 10g, sắc uống thay trà hàng ngày. Hoặc lá ba chạc 16g cho vào ấm đổ 6 bát con nước, sắc nhỏ lửa 30 phút, còn 3 bát nước thuốc, chia 3 lần uống trong ngày. Dùng liền 1 tuần.

Bài 2: Chữa mẩn ngứa, ghẻ: Hái một nắm lá to cả cành non cây ba chạc, khoảng 50 – 100g, để tươi, rửa sạch, đun sôi với 4 – 5 lít nước trong 30 phút đến 1 giờ. Đợi khi nước ấm, dùng để tắm, lấy bã xát mạnh vào các nốt ngứa ghẻ. Ngày tắm nước này một lần. Tắm đến khi khỏi.

Bài 3: Chữa tê thấp, xương đau nhức: Lá ba chạc tươi, lá tầm gửi cây sau sau, mỗi thứ một nắm, rửa sạch, giã nát băng đắp vào chỗ đau nhức. Ngày làm 1 lần, trong 7 – 10 ngày. Để tăng hiệu quả, có thể kết hợp thuốc uống trong: Thiên niên kiện 12g, rễ bưởi bung 10g, quả dành dành 8g. Tất cả thái nhỏ, phơi khô ngâm với 1 lít rượu 30 – 40 độ, để càng lâu càng tốt. Ngày uống 2 lần, mỗi lần một chén nhỏ, 10 ngày một liệu trình.

Bài 4: Dự phòng  nhiễm cảm cúm: Ba chạc 15g, rau má 30g, đơn buốt 15g, cúc chỉ thiên 15g. Đổ 6 bát con nước, sắc nhỏ lửa 30 phút, còn 3 bát nước thuốc, chia 2 lần uống trong ngày, dùng 1 tuần.

Bài 5: Điều hòa kinh nguyệt: Rễ ba chạc 12g, cho vào ấm đổ 6 bát con nước, sắc còn 3 bát nước thuốc, chia 3 lần uống trong ngày. Uống trước chu kỳ kinh 15 ngày.

(Bác sĩ Trần Thị Hải)

OLYMPUS DIGITAL CAMERA

OLYMPUS DIGITAL CAMERA

BA CHẠC

Ba chạc. Chè đắng. Chè cỏ. Cây dầu dầu – Euodia lepta (Spreing) Merr, thuộc họ Cam – Rutaceae.

Mô tả: Cây nhỡ cao 2-8m, có nhánh màu đỏ tro. Lá có 3 lá chét, với lá chét nguyên. Cụm hoa ở nách các lá và ngắn hơn lá. Quả nang, thành cụm thưa, có 1-4 hạch nhẵn, nhăn nheo ở cạnh ngoài, chứa mỗi cái một hạt hình cầu đường kính 2mm, đen lam, bóng.

Hoa tháng 4-5. Quả tháng 6-7.

Bộ phận dùng: Lá và rễ – Folium et Radix Euodiae Leptae.

Nơi sống và thu hái: Rất phổ biến khắp nước ta trên các đồi cây bụi, ở rìa rừng và trong rừng thưa, ở cả vùng đất núi và đồng bằng. Còn phân bố ở Trung Quốc, Philippin vv…

Thu hái rễ và lá quanh năm. Rửa sạch rễ thái nhỏ và phơi khô ngoài nắng.

Lá sấy khô hay phơi trong râm.

Thành phần hoá học: Rễ chứa alcaloid; lá có tinh dầu thơm nhẹ.

Tính vị, tác dụng: Vị đắng, mùi thơm, tính lạnh; có tác dụng thanh nhiệt, chống ngứa, giảm đau.

Công dụng, chỉ định và phối hợp:

1. Lá thường được dùng chữa ghẻ, mọn nhọt, lở ngứa, chốc đầu. Chữa các chứng nhiệt sinh khát nước, ho đau cổ họng, mắt mờ, trẻ em sốt cao sinh kinh giật. Ngày dùng 20-40g lá, dạng nước sắc hoặc cao. Thường nấu nước để tắm rửa hoặc xông. Có thể phối hợp với Kim ngân hoa (lượng bằng nhau) nấu nước uống.

2. Rễ và vỏ chữa phong thấp, đau gân, nhức xương tê bại, bán thân bất toại và điều hoà kinh nguyệt. Ngày uống 4-12g rễ và vỏ khô dạng thuốc sắc.

Ở Trung Quốc lá được dùng: 1. Phòng trị bệnh cúm truyền nhiễm, viêm não; 2. Ðột quỵ tim, cảm lạnh, sốt, viêm họng, sưng amydal; 3. viêm phế quản tích mủ, viêm gan. Rễ được dùng trị: 1. Thấp khớp, đau dây thần kinh hông, đau hông; 2. Ngộ độc lá ngón. Dùng ngoài trị đòn ngã tổn thương nọc rắn, áp xe, vết thương nhiễm trùng, eczema, viêm mủ da, Trĩi. Liều dùng: Lá 10-15g, rễ 9-30g, dạng thuốc sắc. Dùng ngoài, lấy lá tươi đắp hoặc nấu nước rửa, hoặc phơi khô và tán bột làm thuốc đắp.

Ðơn thuốc: – Dự phòng cúm truyền nhiễm và viêm não: Ba chạc 15g. Rau má 30g. Ðơn buốt 15g. Cúc chỉ thiên 15g, sắc uống.

XA TIỀN THẢO VÀ SỰ TÍCH XA TIỀN

Madetuoi(Quan)

Xa tiền thảo chỉ toàn bộ cây Xa tiền thuộc loài cỏ sống lâu năm, thuộc họ Xa tiền (hay còn gọi Mã đề). Theo quan niệm của Đông y thì Xa tiền thảo có tính vị ngọt, hàn, nhập các kinh của thận, can, phế; có công dụng lợi thủy thông lâm, trừ thấp, chỉ tả, giúp mát gan sáng mắt, thanh phế hóa đờm. Thần Nông bản thảo kinh nói răng Xa tiền chủ về khí lung (bí đái do khí bế), chỉ thống, lợi thủy đạo, thông tiểu tiện, trừ thấp tý. Còn Bản thảo cương mục cho rằng Xa tiền có công dụng giải nhiệt tiểu tràng, chữa dứt tả lị do thử thấp.Dược tính luận thì viết Xa tiền bổ cho ngũ tạng, giúp sáng mắt, lợi tiểu tiện, thông ngũ lâm. Dưới đây là câu chuyện về sự tích tên gọi cây thuốc này.

Thời Tây Hán có vị danh tướng tên là Mã Vũ, trong một lần xuất quân tới vùng biên ải chinh chiến bị quân địch vây hãm trong vòng sáu tháng liền, ròng rã sáu tháng ấy thời tiết nóng nhiệt không có lấy một giọt mưa. Do ăn uống kham khổ, thiếu lương thực và thiếu nước, đói khát đan xen khiến cho Mã Vũ bụng trướng đau, đi tiểu ra máu, nhỏ giọt buốt nhói vô cùng khó chịu. Vị lang y đi theo phục vụ đoàn quân chẩn đoán đó là chứng tiểu tiện ra máu (niệu huyết) nhưng khổ nỗi không có thuốc thang chữa trị nên đành bó tay.

Một hôm có một người trông nom ngựa tên là Trương Dũng đem đến một nhành cỏ muốn yết kiến tướng quân. Mã Vũ cho gọi vào trướng hỏi nguyên do sự tình. Trương Dũng nói: “Bầy tôi là kẻ trông nuôi ngựa, qua quan sát bầy tôi để ý thấy trong đám ngựa có một số con nước tiểu trong suốt, ăn uống tốt, còn một số không ăn, không khát thì đi tiểu ngắn, đỏ và ít. Sở dĩ  những con ngựa ăn uống tốt là do chúng thường ăn loại cỏ mọc phía trước xe (xa tiền). Bầy tôi đã nhổ loại cỏ này cho những con ngựa nhuốm bệnh ăn thì kết quả sau hai ngày đám ngựa bệnh này đều khỏi cả. Bầy tôi còn thử dùng loài cỏ này bằng cách đem sắc thành nước cho một số phu tạp dịch có bệnh uống, thì bệnh tình của họ cũng đã chuyển biến tốt rồi”. Mã Vũ tướng quân nghe xong vô cùng vui mừng bèn ra lệnh cho thuộc hạ đi nhổ loài cỏ này về chữa bệnh. Kết quả là binh sĩ mắc bệnh niệu huyết sau hai ngày uống nước cỏ sắc bệnh tình liền thuyên giảm.

Mã Vũ hỏi Trương Dũng: “Loài cỏ này lấy từ đâu vậy?”. Trương Dũng thưa: “Tướng quân không thấy đó sao, chính là ở phía trước cỗ xe lớn đó”. Mã Vũ bèn phá lên cười: “Thật là trời giúp ta rồi, cho nên mới ban cho cỏ ở trước xe (xa tiền thảo) vậy !”

Thế là từ đó loài cỏ ấy được gọi là “Xa tiền thảo” còn hạt của nó thì được gọi là “Xa tiền tử”.

 

Xa tiền thanh nhiệt, lợi thủy

Theo Đông y, xa tiền tử vị ngọt, tính hàn, vào các kinh can, thận, bàng quang và phế, có tác dụng lợi niệu thẩm thấp; ngoài ra còn mát gan sáng mắt. Xa tiền thảo có tác dụng giống xa tiền tử; ngoài ra còn có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, trị tiểu tiện ra máu.

Xa tiền tử là hạt chín già phơi khô của cây mã đề (Plantago asiatica L.), xa tiền thảo là cả cây mã đề phơi hay sấy khô. Trong xa tiền thảo và xa tiền tử có các hợp chất saccharides, iridoids (aucubin, geniposidic acid) và flavonoids (plantagoside)… Theo Đông y, xa tiền tử vị ngọt, tính hàn, vào các kinh can, thận, bàng quang và phế, có tác dụng lợi niệu thẩm thấp; ngoài ra còn mát gan sáng mắt. Xa tiền thảo có tác dụng giống xa tiền tử; ngoài ra còn có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, trị tiểu tiện ra máu. Xa tiền tác dụng lợi thủy, thanh nhiệt, minh mục trừ đờm. Dùng cho các trường hợp vàng da phù nề, bệnh sỏi đường tiết niệu (đái máu, đái đục, đái dắt, buốt), tiêu chảy, viêm kết mạc mắt, ho do viêm họng, viêm khí phế quản. Liều dùng hằng ngày là mã đề thảo 20 – 50g (dạng tươi) vắt ép nước, nấu sắc; hạt 5 – 10g (dạng khô), nấu sắc uống.

 

Bài thuốc chữa bệnh có xa tiền

Lợi niệu thông lâm:

Hạt mã đề 12g, cù mạch 12g, biển súc 12g, hoạt thạch 20g, quả dành dành 12g, mộc thông 12g, đại hoàng 8g, ngọn cam thảo 4g, đăng tâm thảo 4g. Sắc uống. Trị thấp nhiệt, tiểu nhỏ giọt và đục, tiểu dắt, tiểu ra máu, niệu đạo đau buốt và kết sỏi.

Hạt mã đề 20g hoặc cây mã đề 30g; sắc uống. Phối hợp phục linh bì 12g, trạch tả 12g, bạch truật 12g; sắc uống. Trị phù thũng, tiểu tiện không lợi.

Mã đề thảo125g, cây nhọ nồi 125g. Sắc uống. Trị tiểu nhỏ giọt và ra máu.

Thẩm thấp, cầm tiêu chảy:

Hạt mã đề 20g, sơn tra 12g. Sắc uống, hoặc thêm bột, nước cơm, đường trắng, pha uống. Trị tiêu chảy.

Hạt mã đề 12g, bạch phục linh 12g, trư linh 12g, hương nhu 12g, đảng sâm 12g, ruột cây bấc đèn 4g. Sắc uống. Trị nôn mửa, tiêu chảy mùa hè, miệng khát, tiểu tiện không lợi.

 

Mát gan, sáng mắt:

Hạt mã đề 20g, mật mông hoa 20g, hạt muồng 20g, bạch tật lê 20g, khương hoạt 20g, long đởm thảo 20g, hoàng cầm 20g, cúc hoa 20g. Nghiền chung thành bột mịn. Ngày uống 3 lần, mỗi lần 12g, uống với nước cháo. Dùng cho chứng bệnh do gan nóng (can nhiệt), mắt đỏ, sưng đau.

 

Một số thực đơn chữa bệnh có mã đề

Nước ép mã đề: mã đề thảo tươi một nắm, rửa sạch xay ép lấy nước (khoảng nửa cốc) thêm chút đường trắng khuấy đều, uống. Dùng cho các trường hợp tiểu dắt, buốt, khó tiểu (viêm đường tiết niệu…).

Cháo mã đề: mã đề thảo tươi 30 – 60g, gạo tẻ 100g nấu chung thành cháo, cháo chín vớt bỏ bã, thêm hành tươi, gia vị vừa ăn. Dùng cho các trường hợp phù nề, tiêu chảy, viêm đường tiết niệu…

Nước hãm xa tiền tử: xa tiền tử 9g, pha hãm uống thay chè. Dùng cho bệnh nhân tăng huyết áp.

Cháo phục linh xa tiền: xa tiền tử 30g, phục linh 30g, gạo 60g. Xa tiền tử gói trong vải màn nấu với gạo tẻ thành cháo, khi cháo được vớt bỏ bã xa tiền, thêm bột phục linh, ít đường, khuấy cho tan và sôi đều. Ăn ngày 2 lần, dùng cho các trường hợp viêm tử cung, huyết trắng.

Cháo xa tiền tử: xa tiền tử 15 – 30g, gạo tẻ 100g. Xa tiền tử gói trong vải màn sắc lấy nước. Đem nước sắc nấu với gạo thành cháo, thêm chút muối gia vị, cho ăn nóng ngày 2 lần (sáng, chiều). Dùng cho người cao tuổi viêm khí phế quản mạn tính, tăng huyết áp, viêm đường tiết niệu…

Lá xa tiền tươi 30 – 60g, gạo tẻ 100g, hành tươi 1 củ. Lá mã đề sắc lấy nước bỏ bã, nấu với gạo thành cháo, cho hành vào. Tác dụng: trừ đờm, chống viêm, lợi niệu, giảm cholesterol máu.

Kiêng kỵ: Không dùng cho các trường hợp tỳ vị hư hàn, di hoạt tinh hoặc tỳ hư hạ hãm.

 

(TS. Nguyễn Đức Quang – SKĐS)

Bệnh teo não, mất trí nhớ và cây thông Đất Việt Nam

Những ngày đầu xuân năm 2013, người người đi trẩy hội đình chùa, còn tôi trong lòng không vui vì mới nghe tin anh bạn vong niên nhiều năm không gặp nay ốm yếu và không còn minh mẫn. Tôi quyết định gác những kế hoạch đầu xuân lại để đi thăm bạn, anh Ma Viết Tương, 67 tuổi nay đang ở thị trấn Bằng Lũng, Chợ Đồn, Bắc Cạn. Từ ngày nghỉ hưu đến nay hơn 7 năm, anh bắt đầu bị teo não đã được chẩn đoán xác định bởi chụp cắt lợp cộng hưởng từ tại bệnh viện lão khoa Trung ương.

Chuyện người bạn cũ 1

Hình ảnh ông Ma Viết Tương – Chợ Đồn, Bắc Cạn

Khi còn trẻ chúng tôi rất thân thiết cả trong công việc lẫn cuộc sống đời thường. Thế mà giờ anh không còn nhận ra tôi, mỗi bước đi hai chân díu vào nhau, thái độ thờ ơ, bàng quan, mắt nhìn tận đẩu tận đâu, hỏi những câu hỏi nghe cộc lốc và hết sức khó chịu: anh là ai, đến đây có việc gì, nghỉ rồi, không làm việc …

Thương anh mất trí nhớ, vận động khó khăn, không thể tự chăm sóc mình, phần lại buồn cười vì thấy cung cách ông anh đúng như vẫn đang là chi cục trưởng thuế hồi còn công tác. Chị Xim vợ anh, vốn là y sỹ lâu năm nói: anh không nhớ gì đâu, đi lạc chả biết đường về, tìm dắt về còn cãi lại thật lực.

Nhiều năm nghiên cứu các dược liệu và các bài thuốc chữa bệnh, tôi biết đến cây thông đất đã được nhiều kênh thông tin khoa học từ Mỹ, Nga, Trung Quốc dùng để chữa bệnh teo não, mất trí nhớ này. Cây thông đất mới đây được tìm thấy ở vùng núi cao Việt Nam nên tôi có đưa mẫu cây thông đất cho chị Xim xem, nhà anh chị ngay ven rừng quốc gia Ba Bể nhiều khả năng là có cây này. Chị tìm thử cho anh uống 5-10 gram mỗi ngày bệnh teo não của anh có thể đỡ dần, chí ít là cải thiện.

Chuyện người bạn cũ 2

Hình ảnh cây Thông đất Việt Nam

Chị Xim tìm được đúng mẫu cây Thông Đất trên rừng, kết hợp với một số vị dược liệu bổ trợ theo nghiên cứu của tôi, kết quả 6 tháng sau trí nhớ và khả năng vận động, sức khỏe và toàn trạng của anh Tương cải thiện rõ rệt. Anh đã đi lại bình thường, có thể tự chăm sóc bản thân và đi ra ngoài không bị lạc đường nữa. Một năm sau, tức là sau tết 2014, chúng tôi trở lại huyện Chợ Đồn thăm anh, anh đã vui vẻ tay bắt mặt mừng, ngồi nhậu cũng nhau kể chuyện “ngày xưa” suốt mấy tiếng đồng hồ.

Trong thông đất có huperzine A, một alkaloid có tác dụng ức chế acetylcholinesterase, làm tăng khả năng dẫn truyền của xi-náp thần kinh. Theo đó trí nhớ, vận động được cải thiện. Hiện nay các dược chất được phân lập từ thông đất đã rõ về cấu trúc hóa học nhờ cơ sở dữ liệu phổ khối cộng hưởng từ.

Bệnh teo não, mất trí nhớ và cây thông đất

Teo não là một bệnh nặng của thần kinh não gây ra bởi sự thoái hóa, chết và teo nhỏ các tế bào thần kinh khiến các mô não, kích thước não dần nhỏ lại ảnh hưởng lớn đến khả năng ghi nhớ, ngôn ngữ và hành vi… của người bệnh. Bệnh thường xuất hiện ở những người lớn tuổi (≥ 65 tuổi), nhất là những bệnh nhân đã trải qua tai biến mạch máu não hoặc phẫu thuật chấn thương sọ não, nhưng cũng có những trường hợp nguyên phát xảy ra từ sớm ở những người trẻ tuổi. Năm 2006, trên toàn thể giới có 26,6 triệu người mắc bệnh teo não, mất trí nhớ dự đoán đến năm 2050 tỷ lệ người mắc sẽ rất cao (1/85 người). Các yếu tố nguy cơ bệnh teo não, mất trí nhớ bao gồm: tuổi, tiền sử gia đình, Hội chứng Down, chấn thương sọ não, sau tai biến mạch máu não hoặc các phẫu thuật não bộ.

Trong giai đoạn đầu, triệu chứng phổ biến nhất là không có khả năng nhớ được việc vừa xảy ra. Nếu nghi ngờ bệnh teo não cần đánh giá hành vi, tác phong và kiểm tra nhận thức kết hợp với chụp cắt lớp não. Khi bệnh tiến triển, người bệnh nhầm lẫn, quên nhiều, gặp khó khăn trong sinh hoạt thường ngày. Dần dần thờ ơ các hoạt động xã hội, gia đình, thay đổi tâm trạng; mất ngôn ngữ; mất trí nhớ dài hạn; suy giảm các giác quan; tiến triển bệnh mất các chức năng sống, cuối cùng tử vong. Bệnh nhân chỉ có thể sống thêm khoảng 7 năm, một tỷ lệ rất nhỏ (dưới 3%) người bệnh có thể sống thêm 14 năm kể từ khi phát bệnh.

Cây thông đất, tên khoa học: Huperzia hamiltonii (Spring.) Trevis; Tên đồng nghĩa: Lycopodium hamiltonii Spring; Tên thường gọi khác: Thạch tùng, thuộc Họ thông đất: Lycopodiaceae. Loài này phân bố ở núi cao Việt Nam và Trung Quốc, mọc trên thân cây có rêu, trên núi đá vùng núi cao. Đây là cây thuốc quý hiếm, là phát hiện mới đem lại hy vọng cho những người bệnh teo não, mất trí nhớ, đặc biệt giúp phòng ngừa teo não cho đối tượng bệnh nhân sau tai biến mạch máu, chấn thương sọ não.

Hoạt chất chính của thạch tùng thân gập_tên gọi khác là cây thông đất là Huperzine A. Chất này được các nhà khoa học Trung Quốc cô lập lần đầu tiên vào năm 1948. Alcaloide này có thể dễ dàng xuyên qua hàng rào máu não và tác động trực tiếp lên các tế bào thần kinh não bộ. Huperzine A có tác dụng tăng cường dẫn truyền thần kinh, ngăn chặn hình thành các mảng bám, đám rối trong não, nuôi dưỡng tế bào não từ đó có đáp ứng rất tốt với các bệnh Alzheimer, teo não và sa sút trí tuệ và các bệnh có liên quan đến tổn thương tế bào thần kinh não bộ.

                                  Bác sỹ Hoàng Sầm                         

Chủ tịch Viện Nghiên cứu y học bản địa Việt Nam.

Cây Lá ngón

1427470567_cay-la-ngon

Cây lá ngón, còn gọi là cây rút ruột, co ngón, hồ mạn trường, hồ mạn đằng, hoàng đằng, đoạn trường thảo, câu vẫn v.v., có danh pháp hai phần là Gelsemium elegans, trước đây được phân loại trong họ Mã tiền (Loganiaceae), nhưng từ năm 1994 đến nay được cho là thuộc họ mới là họ Hoàng đằng (Gelsemiaceae).
Cây lá ngón là một loại cây leo thân quấn thường xanh, dài tới 12 m khá phổ biến ở miền rừng núi Việt Nam, Ấn Độ, Indonesia, Lào, Malaysia, miền bắc Myanma, bắc Thái Lan, cũng như các tỉnh Phúc Kiến, Quảng Đông, Quảng Tây, Quý Châu, Hải Nam, Hồ Nam, Giang Tây, Vân Nam, Chiết Giang của Trung Quốc và Đài Loan.

Cây lá ngón được tìm thấy trong các cánh rừng rậm và dày ở cao độ từ 200 mét đến 2.000 mét. Thân cây có khía. Cành non màu xanh lục nhạt không có lông. Cành già màu xám nâu nhạt. Lá mọc đối, không lông, hình trứng hay hình trứng mũi mác, đầu nhọn, mép nguyên, xanh nhẵn bóng, mép lá nguyên, dài 7–12 cm. Hoa mọc thành xim đầu cành hay kẽ lá. Năm cánh hoa màu vàng, tràng hoa hình phễu, ra hoa trong khoảng từ tháng 5 tới tháng 11-12. Quả là dạng quả nang, hình thon elíp hay hình trứng, dài 1-1,4 X 0,6-0,8 cm, nhẵn không lông, màu nâu. Hạt nhỏ cỡ 0,5 cm, dạng từ hình elíp tới hình thận, màu nâu nhạt, phần giữa có lông, có diềm cánh mỏng xung quanh giúp phát tán theo gió. Là loài cây ưa sáng nên thường mọc chỗ đất trống, bìa rừng, ven đường.

langon

Độc tính
Độc tính của lá ngón là do các ancaloit chứa trong toàn bộ cây, trật tự độc giảm từ rễ, lá, hoa, quả và thân cây. Tới 17 đơn phân ancaloit đã được chiết ra từ lá ngón như koumin, gelsenicin, gelsamydin I, gelsemoxonin, 19α-hydroxygelsamydin, trong đó hàm lượng koumin là cao nhất còn độc tính của gelsenicin tính theo LD50 trên chuột là cao nhất.

Ở Việt Nam và Trung Quốc, cây lá ngón được coi là một trong 4 loại cây có độc tính hàng cao nhất (thuốc độc bảng A), một số người cho rằng chỉ cần ăn ba lá là đủ chết người.

Triệu chứng ngộ độc
Người bị ngộ độc lá ngón có các triệu chứng khát nước, đau họng, chóng mặt, hoa mắt, buồn nôn… sau đó bị mỏi cơ, thân nhiệt hạ, huyết áp hạ, răng cắn chặt, sùi bọt mép, đau bụng dữ dội, tim đập yếu, khó thở, đồng tử giãn và chết rất nhanh do ngừng hô hấp.

Giải độc
Giã nhiều rau má hoặc rau muống lấy nước cốt, sau đó cho người bị ngộ độc uống để làm giảm độc tính rồi chuyển đến bệnh viện cấp cứu.

Sử dụng y học
Tại Trung Quốc, cây lá ngón được sử dụng để điều trị eczema, bệnh trĩ, nhiễm trùng răng, phong (hủi), nhọt ngoài da, chống tổn thương và co thắt, nhưng do độc tính cao nên chỉ hạn chế trong các ứng dụng ngoài da.

(Nguồn: Động thực vật Việt Nam)

Tam thất – Vị thuốc quý

Cây Tam thất

Cây Tam thất

PanaxNotoginsengPhoto07

Hoa Tam thất tươi

Hoa Tam thất tươi

Tam thất là rễ của cây tam thất, còn gọi là sâm tam thất. Trước đây được coi như vị thuốc “giả nhân sâm”,  ý nói có thể thay nhân sâm. Chính vì vậy mà ngay tên khoa học của nó cũng phản ánh được điều này: Panax pseudo ginseng Wall. Ở đây từ Panax mang ý nghĩa tên “chi” của nhân sâm (về phân loại thực vật), xuất phát từ tiếng Hy Lạp Panacen, tức là chữa được rất nhiều loại bệnh. Còn pseudo, có nghĩa là giả và ginseng là phiên âm từ nhân sâm. Ngày nay tên khoa học của tam thất là Panax Notoginseng (Bark.) F.H. Chen, họ nhân sâm Araliaceae (ngũ gia bì). Trong Đông y, tam thất còn được gọi là “kim bất hoán”, “kim”, tức là vàng, bất hoán, là không đổi được; có nghĩa là vị thuốc tam thất rất quý, đến mức có vàng cũng không thể đổi được.

 tamthat(close)

Củ Tam thất

Củ Tam thất

Tác dụng sinh học của tam thất

Tam thất có tác dụng tăng lực rất tốt, tác dụng này giống với tác dụng của nhân sâm; rút ngắn thời gian đông máu; tiêu máu ứ và tăng lưu lượng máu ở động mạch vành của động vật thí nghiệm. Làm tăng sức co bóp cơ tim ở liều thấp; tác dụng kích dục, đối với chức năng nội tiết sinh dục nữ, thể hiện ở các hoạt tính oestrogen và hướng sinh dục; giãn mạch ngoại vi và không ảnh hưởng đến huyết áp và hệ thần kinh trung ương; điều hòa miễn dịch; kích thích tâm thần, chống trầm uất.

 

Hoa Tam thất khô

Hoa Tam thất khô

Tại sao tam thất lại tác dụng tốt như vậy?

Tam thất cũng chứa các hợp chất giống như nhân sâm. Các bộ phận của cây như rễ con, lá, hoa tam thất đều chứa các hợp chất saponosid nhóm dammaran. Ngoài ra còn phải kể đến các thành phần có giá trị khác như các acid amin, các chất polyacetylen và panaxytriol…

 

Quả Tam thất

Quả Tam thất

Tính đa dạng trong sử dụng tam thất

Trong Đông y, tam thất được xếp vào loại đầu vị của nhóm chỉ huyết (cầm máu). Khi nhấm có vị đắng nhẹ, hơi ngọt và để lại dư vị đặc trưng của nhân sâm. Để dễ phân biệt, tiền nhân có câu nói về vị của tam thất: “Tiền khổ, hậu cam, hậu cam cam”. Nghĩa là khi nhấm, lúc đầu thấy vị đắng, sau thấy ngọt và càng về sau càng thấy ngọt. Trên thực tế, tam thất được sử dụng rất đa dạng. Như ta đã biết, tam thất thuộc vào dòng nhân sâm nên có tác dụng bổ, song lại có phần khác với nhân sâm là tam thất lại theo hướng tác dụng vào phần âm huyết là chính. Tuy nhiên từ trước đến nay, tam thất vẫn là vị thuốc được sử dụng chính để cầm máu, tiêu máu cục và bổ máu. Cầm máu vẫn là tác dụng được ưu tiên của tam thất. Với 3 tác dụng trên, đối tượng được quan tâm sử dụng nhiều nhất của tam thất vẫn là phụ nữ sau khi sinh, vì thuốc có tác dụng chữa chảy máu, máu tụ và thiếu máu. Để tăng thêm ý nghĩa bổ, tam thất thường được sử dụng dưới dạng tần gà. Tam thất được dùng để cầm máu khi xuất huyết bên trong như rong kinh, băng huyết, chảy máu cam, ho ra máu, thổ huyết, trĩ xuất huyết… hoặc thiếu máu gây hoa mắt, chóng mặt, da dẻ xanh xao… Có thể sử dụng dưới dạng uống (thuốc hãm, bột thuốc). Với chảy máu bên ngoài như chấn thương, bị thương chảy máu có thể dùng bột tam thất rắc vào vết thương rồi băng lại.

Cần chú ý thêm rằng, đối với trường hợp làm tiêu máu tụ, chỉ nên sử dụng tam thất khi triệu chứng xuất huyết mới xảy ra. Ví dụ xuất huyết tiền phòng ở mắt, dùng tam thất lúc này rất tốt. Nếu trong mạch máu hoặc trong tim đã có các cục máu đông, không nên dùng tam thất nữa. Nếu dùng, cục máu này sẽ là trung tâm để kết tụ, làm cho cục máu to dần lên, ảnh hưởng đến sự lưu thông của mạch máu, đôi khi gây ra đột quỵ. Ngày nay, tam thất còn được dùng để trị các  bệnh  u xơ, u cục…, cho kết quả khá tốt, tuy nhiên không phải là tất cả. Ngoài ra còn dùng tam thất kết hợp với một số vị thuốc khác, như đan sâm để trị bệnh đau thắt ngực do xơ vữa động mạch vành, hoặc lưu lượng huyết quản giảm, hoặc sau tai biến mạch máu não…

 

Những cây mang danh tam thất

Do tam thất có nhiều tác dụng tốt nên trên thực tế, người ta đã dùng nhiều vị thuốc “giả danh” tam thất. Do vậy, khi sử dụng vị thuốc quý này, cần biết những vị thuốc thường được dùng dưới tên gọi là tam thất, song không có những tác dụng như vị tam thất đã giới thiệu.

 

Tam thất gừng  Stablianthus thorelli Gagnep, họ Gừng Zingiberaceae.

Cây này có hình thái thực vật giống cây nghệ, lá có mùi nghệ, được trồng nhiều ở Ba Vì. Ở mỗi gốc nhổ lên có rất nhiều củ nhỏ, có hình tròn dẹt. Trên thị trường đôi khi người ta đánh bóng vỏ rễ bằng một lớp màu đen, khi nhấm có vị đắng, mùi nghệ. Nhiều người đã mua nhầm.

Tam thất gừng

Tam thất gừng

Tam thất gừng (Tam thất Nam)

Tam thất gừng (Tam thất Nam)

 

Thổ tam thất Gynura pinnatifida L., tên đồng danh Gynura segetum (Lour.) Merr, G. japonica (Thunb.) Juel., họ cúc Asteraceae. Cây này thường trồng ở Hải Dương, Hưng Yên với tên bạch truật nam, cũng được gọi là tam thất.

 

Cây Thổ Tam thất

Cây Thổ Tam thất

Thổ Tam thất

Thổ Tam thất

(GS.TS. Phạm Xuân Sinh – SKĐS)

Tam thất (Radix Notoginseng)

Nội dung

  1. Định nghĩa dược liệu 
  2. Đặc điểm thực vật
  3. Thành phần hoá học
  4. Kiểm nghiệm
  5. Tác dụng, công dụng
  6. Ghi chú
  7. Tài liệu tham khảo        

1. Định nghĩa dược liệu

Dược liệu là rễ củ phơi hay sấy khô của cây Tam thất (Panax notoginseng (Burk.) F. H. Chen = Panax pseudo-ginseng Wall var. notoginseng (Burk) Hoo et Tseng), họ Nhân sâm (Araliaceae).

 

2. Đặc điểm thực vật

Cây thảo, sống nhiều năm.  Thân mọc thẳng, cao 30 – 50cm, màu tím tía. Lá kép chân vịt, 3 – 4 cái mọc vòng gồm 5-7 lá chét hình mác, gốc thuôn, đầu có mũi nhọn, mép khía răng, hai mặt có lông cứng ở gân, mặt trên thẫm, mặt dưới nhạt.

Cụm hoa mọc thành tán đơn ở ngọn thân; hoa màu lục vàng nhạt, đài 5 răng ngắn; tràng 5 cánh rộng ở phía dưới, nhị 5; bầu 2 ô. Quả mọng, hình cầu dẹt, khi chín màu đỏ; hạt màu trắng. Mùa hoa: tháng 5-7, mùa quả: tháng 8 – 10. Rễ củ hình con quay.

Tam thất có nguồn gốc ở phía nam Trung Quốc, được đưa vào trồng trọt từ lâu đời, Tam thất có mọc tự nhiên ở vùng Sapa. Loài tam thất hiện nay đang được trồng ở Trung Quốc là Panax notoginseng. Cây đựơc trồng nhiều nhất ở tỉnh Vân Nam Trung Quốc, sau đến Quảng Tây và một số nơi khác ở Ðài Loan, Nhật Bản và Hàn Quốc.

Tam thất là cây thảo đặc biệt ưa bóng và ưa ẩm mát ở vùng núi cao (trên 1500m). Về mùa đông nhiệt độ có thể xuống dưới 00C, nhưng phần thân rễ của Tam thất vẫn tồn tại. Hàng năm vào khoảng tháng 2 -3, từ đầu thân rễ mọc lên chồi thân. Chồi này sinh trưởng rất nhanh, chỉ sau 2-2,5 tháng đã đạt kích thước cực đại, sau đó bắt đầu có hoa quả. Cây trồng đúng quy cách, được chăm sóc tốt tỷ lệ đậu quả cao (khoảng 60%). Sau khi quả chín, toàn bộ phần thân trên mặt đất bắt đầu tàn lụi. Hạt Tam thất có khả năng nảy mầm khỏe, tỷ lệ nảy mầm giảm theo thời gian.

Tam thất thường được trồng ít nhất 5 năm mới được thu hoạch, càng để lâu càng tốt. Cần thu vào lúc cây bắt đầu ra hoa. Củ đào về bỏ rễ, rửa sạch đất, phơi gần khô, cho vào bao tải lăn hoặc xoa tay cho nhẵn vỏ, sau đó lại đem phơi đến khô. Năng suất trung bình 500-700kg củ khô/ ha.

3. Thành phần hoá học

Thành phần hoá học chính của Tam thất là các saponin thuộc nhóm dammaran mà phần aglycon cũng là 2 chất 20(S) protopanaxadiol và 20(S) protopanaxatriol như ở Nhân sâm. Các saponin thường gặp trong rễ củ là:

a. Các saponin có phần aglycon là 20(S) protopanaxadiol:

G-Rb1, G-Rb2, G-Rd, Gy-XVII, N-R4, N-Fa.

b. Các Saponin có phần aglycon là 20(S) protopanaxatriol:

G-Re, G-Rg1, G-Rg2, G-Rh1, 20Glc-G-Rf, N-R1, N-R2, N-R3, N-R6.

Trong số các saponin trên, G-Rb1 có hàm lượng 1,8% và G-Rg1 1,9% còn G-Rb2 và G-Rc thì rất thấp.

(Chú thích: G= Gingsenosid, Gy: gypenosid, N= notoginsenosid)

Các bộ phận khác của cây như rễ con, lá hoa đều có saponin nhóm dammaran.

4. Kiểm nghiệm

4.1. Ðặc điểm dược liệu

Rễ củ có hình con quay hoặc hình trụ, dài 2- 4 cm, rộng 1-2,5 cm. Mặt ngoài màu vàng tro, nhẵn bóng, có nhiều nếp nhăn dọc, trên thân củ có mang những củ nhỏ và còn vết tích của rễ con sót lại (Ảnh vị thuốc Tam thất). Mặt cắt ngang nhìn rõ hình tia toả tròn của mạch gỗ.

 

4.2. Đặc điểm vi học

Ðặc điểm vi phẫu

Mặt cắt có hình chữ nhật. Từ ngoài vào trong có: Lớp bần cấu tạo bởi 4-5 hàng tế bào hình chữ nhật. Mô mềm là những tế bào thành mỏng, các tế bào bên ngoài bị ép bẹp. Libe rất phát triển kéo dài gần sát bần, rải rác trong libe có các ống tiết, túi tiết xếp dọc từ ngoài vào trong. Tầng phát sinh libe-gỗ gồm vài hàng tế bào xếp thành vòng tròn liên tục. Gỗ gồm những mạch gỗ xếp thành hàng nằm trong mô mềm gỗ không hoá gỗ. Mô mềm ruột là những tế bào hình nhiều cạnh, kích thước tương đối lớn xếp lộn xộn (Vi phẫu rễ củ Tam thất).

 

Ðặc điểm bột dược liệu

Bột có màu vàng nhạt, mùi đặc trưng, vị đắng sau ngọt. Soi dưới kính hiển vi thấy: Mảnh bần gồm nhiều tế bào hình chữ nhật có màu nâu (1). Mảnh mô mềm là những tế bào hình đa giác đôi khi có mang các hạt tinh bột (2). Hạt tinh bột hình tròn, đa số là hình khối nhiều mặt, đường kính từ 0,005-0,017 mm, hạt tinh bột đơn, hoặc kép 2,3,4… thường tập trung thành khối (3). Mảnh mạch vạch (4). Mảnh mô mang túi tiết (5) (Một số đặc điểm bột Tam thất).

 

Hoa, quả Tam thất cũng được dùng dưới dạng trà thuốc công dụng như Tam thất, dùng riêng hay phối hợp với một số loài cây cỏ khác. Dược liệu dưới dạng các cụm hoa, quả. Vi phẫu cuống hoa , các đặc điểm bột hoa cũng được giới thiệu dưới đây để tham khảo. (Hoa Tam thất), (Quả Tam thất), (Vi phẫu cuống hoa Tam thất), (Một số đặc điểm bột hoa Tam thất)

 

4.3. Hoá học

A. Ðặt một ít bột dược liệu trên khay sứ, nhỏ 1 – 2 giọt acid acetic băng và 1 – 2 giọt acid sulfuric đậm đặc  sẽ xuất hiện màu đỏ, để yên màu đỏ sẽ sẫm dần lại.

 

B. Bột dược liệu, chiết bằng ethanol 70%  đun trên cách thuỷ, lọc. Lấy khoảng 1 ml dịch lọc pha loãng với nước cất thành 10 ml. Lắc mạnh 15 giây, có bọt bền.

 

C. Phương pháp sắc ký lớp mỏng (Sắc ký lớp mỏng):

Tiến hành với bản mỏng Silicagel G đã được hoạt hoá ở 105oC trong 1 giờ và dung môi khai triển là hỗn hợp cloroform – ethyl acetat – methanol – nước (15: 40: 22: 10) lắc đều, để lắng, gạn lấy lớp dưới.

Dung dịch thử: Bột dược liệu, thêm nước, thêm n – butanol đã bão hoà nước, lắc đều, để yên trong 2 giờ. Lọc lấy dịch chiết butanol cho vào bình gạn. Thêm vào bình gạn nước đã bão hoà butanol, lắc kỹ, để yên cho tách lớp. Gạn lấy lớp butanol, cô trên cách thuỷ đến cạn. Hoà tan cắn trong 1 ml methanol.

Dung dịch đối chiếu: Bột Tam thất chuẩn, tiến hành như với dung dịch thử.

Cách tiến hành: Chấm lên bản mỏng các dung dịch trên. Sau khi triển khai sắc ký được khoảng 12 – 14 cm, lấy bản mỏng ra, để khô ở nhiệt độ phòng, phun dung dịch acid sulfuric 10 % trong ethanol, sấy ở 120oC cho đến khi xuất hiện rõ vết.

Các vết trên sắc ký đồ của dung dịch thử phải có màu sắc và giá trị Rf giống các vết trên sắc ký đồ của dung dịch đối chiếu.

Có thể sử dụng sắc ký lớp mỏng hiệu năng cao (HPTLC) để kiểm nghiệm Tam thất. (Xem:  Sắc ký đồ dịch chiết các dược liệu chứa saponin – vệt 10 ảnh I, II, III.). Ở Sapa thuộc tỉnh Lào Cai có giống Tam thất lá xẻ, đặc điểm dược liệu và thành phần hoá học không giống với Tam thất trên thị trường (Xem:  Sắc ký đồ dịch chiết các dược liệu chứa saponin – vệt 11 ảnh I, II, III.).

 

5. Tác dụng và công dụng

Trong đông y, Tam thất được coi là vị thuốc có tác dụng làm mất sự ứ huyết, tác dụng cầm máu, giảm viêm, giảm đau.

Dùng chữa trị các trường hợp: ho ra máu, nôn ra máu, chảy máu cam, đại tiện ra máu, tử cung xuất huyết, chấn thương.

Ngoài ra Tam thất cũng được coi là một vị thuốc bổ như Nhân sâm rất hay được dùng cho phụ nữ sau khi sinh nở. Tam thất được áp dụng trong điều trị nhãn khoa có tác dụng tiêu máu tốt.

Phụ nữ đang mang thai không nên dùng

Công dụng

Tam thất được dùng để chứa thổ huyết, ho ra máu, chảy máu cam, băng huyết, rong kinh, sau khi đẻ huyết hôi không ra, ứ trệ đau bụng, kiết kị ra máu, đi tiểu ra máu, có tác dụng hoạt huyết, làm tan ứ huyết, chữa sưng tấy, thiếu máu, người mệt mỏi, hoa mắt, chóng mặt, nhức đầu, ít ngủ, vết thương chảy máu.

Ngày uống 4- 6g, dạng thuốc bột hoặc thuốc sắc. Dùng ngoài giã đắp hoặc rắc thuốc bột để cầm máu. Thân cây và lá Tam thất cũng được dùng làm chè hãm hoặc nấu cao uống.

6. Ghi chú

Tên khác: Kim bất hoán, Sâm tam thất, Nhân sâm tam thất, Tứ thất, Sơn thất, Ðiền thất, Hạn tam thất.

Chi Panax hiện được biết có khoảng 14 loài trồng và mọc hoang, một số loài trong chi đã được phát hiện dùng để thay thế Tam thất như: Tam thất hoang còn gọi Tam thất lá xẻ, Vũ diệp tam thất, Sâm vũ diệp (Panax bipinnatifidus Seem = Panax japonicus C.A.Mey.var. bipinnatifidus (Seem) C.Y.Wu et Feng ex C. Chow et al.) cũng có thành phần hoá học chứa Saponin.

Theo một số tài liệu có các loài sau thường hay được dùng để thay thế hoặc giả mạo Tam thất [30]:

– Thân rễ khô của cây Trúc tiết sâm (Panax japonicum C.A.Mey.) họ Nhân sâm (Araliaceae).

– Thân rễ của cây Chu tử sâm hay còn gọi là Chu sâm, Thổ tam sâm, Ngật đáp thất, Khấu tử thất (Panax japonicum C.A.Mey. var. major (Burk) C.Y.Wu et K.M.Freng), họ Nhân sâm (Araliaceae).

– Toàn cây, thân rễ hoặc rễ của cây Thiên tam thất (Sedum aizoon L.), họ Thuốc bỏng (Crassulaceae). Cây này có ở Giang Tô, Triết Giang.

– Thân rễ khô đã qua chế biến của cây Curcuma Kwangsiensis S.Lee et C.F.Liang; Curcuma wenyujin Y.H.Chen et C.Ling; Curcuma zedoaria Rosc., thuộc họ Gừng (Zingiberaceae).

– Thân đã qua chế biến của cây Bạch cập (Bletilla striata (Thb.) Reichb. f.) họ Lan (Orchidaceae).

– Cây Chu nha khô hay Ðằng tam thất (Boussingaultia gracilis Miers var. pseudo-baselloides Bailey), họ Mồng tơi (Basellaceae).

ở nước ta có một số dược liệu mang tên Tam thất được dùng để giả mạo, thay thế Tam thất (xem: Tam thất gừngThổ tam thất)

– Tam thất còn được gọi với các tên khác như: Kim bất hoán, Sâm tam thất, Nhân sâm tam thất, Tứ thất, Sơn thất, Ðiền thất, Hạn tam thất.

– Tam thất được trồng và chế biến chủ yếu ở tỉnh Vân Nam, Quảng Tây Trung Quốc. ở nước ta cây được trồng từ lâu ở một số vùng núi 1.200 – 1.500m như Hà Giang, Lào Cai, Cao Bằng.

7. Tài liệu tham khảo

Bài giảng Dược liệu Tập I – 1998. Tr.

Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt nam Tập II. – NXB khoa học và kỹ thuật – 2004. Tr. 775-780

Dược điển Việt Nam III. Tr. 462-463.

Đỗ Tất Lợi – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – NXB Y học – 2003. Tr. 289-291

Nguyễn Viết Thân – Kiểm nghiệm dược liệu bằng phương pháp hiển vi Tập I- NXB khoa học và kỹ thuật- 2003. Tr.210-213.

阎文玫, 中药材真伪鉴定,人民卫生出版社-1994 (16-22)

中国中药材真伪鉴别图典, 广东科技出版社-1995

中药鉴别学, 上海人民出版社-1974

 

(Duoclieu.net)

Tam thất gừng

 

Tam thất gừng (Rhizoma Stahlianthi thoreli)

 

Cây Tam thất gừng (còn gọi là Tam thất Nam)

Cây Tam thất gừng (còn gọi là Tam thất Nam)

Nội dung

  1. Định nghĩa dược liệu 
  2. Đặc điểm thực vật
  3. Đặc điểm dược liệu
  4. Thành phần hoá học
  5. Kiểm nghiệm
  6. Tác dụng, công dụng
  7. Ghi chú
  8. Tài liệu tham khảo        

1. Định nghĩa dược liệu

Dược liệu là thân rễ cây Tam thất gừng (Stahlianthus thorelii Gagnep.), họ Gừng (Zingiberaceae).

 

2. Đặc điểm thực vật

Cây thảo, sống nhiều năm, cao 10-20 cm. Thân rễ phân nhánh, mang nhiều củ nhỏ xếp thành chuỗi. Hàng năm ra hoa trước khi có lá. Lá đơn màu tím mọc từ thân rễ, gồm 3-5 lá có bẹ phát triển, phần lá nguyên, thuôn dài, đầu nhọn. Cụm hoa mọc ở gốc có 1 lá bắc hình ngón tay dài 3-3,5 cm, phân 2 thuỳ ở đầu, trong có 4-5 hoa không cuống, hình ống, cánh môi xẻ nông, màu trắng pha tím (Cây Tam thất gừng), (hoa Tam thất gừng).

Hoa Tam thất gừng

Hoa Tam thất gừng

3. Đặc điểm dược liệu

Thân rễ có hình con quay, mặt ngoài màu vàng ngà, có nhiều vòng ngang, chồi mầm và vẩy khô (Vị thuốc Tam thất gừng). Mặt cắt ngang mịn màu vàng, chất mềm, mùi hăng vị hơi tê.

 Tamthatgtptamthatgungdl

4. Thành phần hoá học

 

5. Kiểm nghiệm

Đặc điểm vi học

Ðặc điểm vi phẫu

Lớp bần gồm các tế bào hình chữ nhật xếp đều đặn thành vòng đồng tâm và dãy xuyên tâm. Mô mềm được cấu tạo từ những tế bào thành mỏng, rải rác trong mô mềm có các tế bào tiết hình trứng. Nội bì cấu tạo từ lớp tế bào thành dày hoá bần tạo thành vành đai Caspari. Bó libe gỗ xếp lộn xộn trong mô mềm ruột (Vi phẫu Tam thất gừng)

 

Ðặc điểm bột dược liệu

Bột có màu vàng nhạt, vị đắng, mùi thơm nhẹ. Quan sát dưới kính hiển vi thấy: Mảnh mô mềm (1) thường chứa những khối hạt tinh bột (3). Mảnh mô mang túi tiết tinh dầu hình trứng màu vàng nhạt (2). Mảnh mạch vạch (4). Sợi thường xếp thành từng bó (5). Hạt tinh bột đơn hình trứng to nhỏ không đều, kích thước từ 0,001- 0,015 mm, ở những hạt lớn nhìn rõ rốn hạt hình chấm hay hình vạch, có vân tăng trưởng đồng tâm (6) (Một số đặc điểm bột Tam thất gừng).

6. Tác dụng và công dụng

Tam thất gừng có tác dụng thông kinh hoạt huyết chữa đầy bụng không tiêu, đau nhức xương.

7. Ghi chú

Thân rễ cây này còn được gọi là Tam thất nam

Cây mọc hoang nơi ẩm, râm mát, ven suối, bìa rừng.

Một số địa phương trong nước ta thường lấy rễ củ của cây Tam thất gừng, để làm giả Tam thất (Panax notoginseng) với tên gọi là Tam thất Chùa Hương.

Thân rễ cây Kaempfera rotunda L., họ Gừng (Zingiberaceae) cũng gọi là Tam thất gừng (Khương tam thất) được dùng ở nước ta chữa đau xương, nôn ra máu, rong kinh.

 

8. Tài liệu tham khảo

Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt nam Tập I. – NXB khoa học và kỹ thuật – 2004. Tr.

Đỗ Tất Lợi – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – NXB Y học – 2003. Tr.

Nguyễn Viết Thân – Kiểm nghiệm dược liệu bằng phương pháp hiển vi. Tập I- NXB khoa học và kỹ thuật- 2003. Tr. 214-216

Д.А. Муравьева – Фармакогнозия – Москва – Медицина 1991. Стр.

阎文玫, 中药材真伪鉴定,人民卫生出版社- 1994

中国中药材真伪鉴别图典, 广东科技出版社- 1995

(Duoclieu.net)