Nhận diện thuốc Đông dược giả

Nghe nói chị hàng xóm than phiền bị lừa đảo mua phải Tam thất và Hà Thủ ô giả của dân bán thuốc rong tại Miền Bắc. Tôi liền quyết định khảo sát xem sao. Mới thoáng nhìn thì đã biết 2 vị thuốc chị ấy mua không phải hàng thật vì nó không giống thật. Sau khi tra cứu và trao đổi với một lương dược tại phố Lãn Ông (Hà Nội). Tôi có một số nhận xét thế này:

That-Gia(small)

Về Hà Thủ Ô:

–         Hà Thủ Ô thật (xem hình ảnh): có màu sắc hơi nâu đỏ, có độ giòn dễ bẻ hơn Hà Thủ Ô giả và tinh bột lấp lánh. Khi nếm thì có mùi thơm dễ chịu tan trong lưỡi hơi ngọt.

 

–         Hà Thủ Ô giả: có màu sắc đen sậm hơn do tẩm mật chứ không phải đỗ đen như Hà Thủ Ô thật. Miếng Hà Thủ Ô giả có độ dai và dẻo, bẻ khó, khi bẻ ra thì thấy có thớ gỗ hơi màu nâu đỏ. Nếm vào lưỡi có vị chát và nhai như nhai gỗ. Theo nhận xét của Lương dược tên Xuân tại phố Lãn Ông thì có khả năng làm từ củ Khúc khắc. Khúc khắc này chỉ là loại Khúc khắc thường chứ không phải là Thổ Phục Linh.

Tamthat-That-Gia

Về Tam thất:

–         Tam thất thật (xem ảnh): Củ tam thất hình thoi hoặc hình con quay (đa số), dài 2-4cm, đường kính 1-2cm. Đầu củ sần sùi do những vết tích của thân cây rụng hằng năm tạo thành. Mặt ngoài màu đen hơn Tam thất giả, có nhiều nếp nhăn dọc. Thịt màu xám đen. Vị ngọt, hơi đắng, mùi thơm đặc trưng, tính ấm.

 

–         Củ tam thất giả: hình tròn thuôn một đầu hoặc hình con quay, dài 1,2-1,5cm, nhẵn. Mặt ngoài màu trắng vàng, có nhiều vòng song song ngang củ. Thịt màu trắng ngà. Vị cay, nóng, mùi thơm như gừng. Khi đưa vào răng cắn thử thì vô cùng rắn chắc như sỏi. Loại Tam thất giả này được làm từ một loại củ tên là Tam Thất Gừng (hoặc Tam Thất Nam). Loại này thường rẻ hơn nhiều so với Tam Thất thật. Loại này chỉ vài chục nghìn/kg, còn Tam Thất Thật có loại lên đến 800 nghìn/kg. Một số trường hợp kẻ xấu sẽ bôi đen Tam Thất Gừng để cho giống Tam Thất thật.

 

Hiện nay 2 loại Thảo dược trên đang được bán tương đối rộng rãi ở một số khu vực chợ các tỉnh miền núi phía Bắc khu du lịch hoặc chợ người dân tộc bán rong.

 

Vậy, một số kinh nghiệm trên sẽ giúp cho mọi người có kiến thức nhận diện thuốc Đông dược giả để tránh bị kẻ xấu lừa đảo.

 

(Đông Y sĩ Ngô Thế Quân)

Cảm mạo phong hàn có được dùng nhân sâm?

Nhân sâm là một vị thuốc rất đặc biệt, mặc dù vẫn phải nhập từ Hàn Quốc, Trung Quốc… nhưng trên thị trường Việt Nam cũng rất dễ mua. Tuy nhiên, không phải ai cũng hiểu đúng về nhân sâm và không phải bệnh nào cũng dùng được vị thuốc này.

Huyền sâm

Huyền sâm

Nhân sâm tên khoa học là Panax ginseng C. A. Mey., họ ngũ gia bì, được bào chế dưới nhiều dạng như bạch sâm, hồng sâm… Trong Đông y, mọi vị thuốc đều được phân vào từng nhóm theo tính vị, công năng của chúng. Tuyệt nhiên không có vị thuốc nào được gọi theo cách chung chung, như “đại bổ” cả, mà phải là bổ khí, hay bổ huyết, bổ dương, hay bổ âm. Nhân sâm được xếp vào nhóm “bổ khí”, với tính chất đại bổ nguyên khí, ích huyết, sinh tân, định thần ích trí. Dùng khi chân khí trong cơ thể bị suy yếu, biểu hiện người mệt mỏi, rã rời.

Nhân sâm

Nhân sâm

Đừng ngộ nhận về nhân sâm

Về tính, vị: Nhiều người thường ngộ nhận, nhân sâm có tính lạnh, hơi lạnh, hay hàn. Vì vậy, khi dùng phải chích với nước cốt của sinh khương (gừng tươi: tính ôn). Trên lâm sàng, đôi khi nhân sâm vẫn được chích với nước gừng tươi để làm tăng thêm tính ấm (tính ôn) của vị thuốc. Theo các tài liệu khoa học, nhân sâm có vị ngọt, hơi đắng, tính ôn (hoặc tính bình). Chỉ có tây dương sâm, sâm Mỹ, cùng họ ngũ gia bì là có vị ngọt, hơi đắng, tính lương (tính mát), cũng có tác dụng bổ khí dưỡng âm, thanh nhiệt, sinh tân. Dùng trị khí hư, âm hao, cơ thể hư nhiệt.

Về thành phần hóa học: thành phần chính của nhân sâm là saponin triterpenic tetracyclic, nhóm dammaran, gọi chung là ginsenosid, bao gồm tới 28 thành phần khác nhau. Có nghĩa là nhân sâm không chứa saponin steroid như một số người lầm tưởng.

 

Sâm bố chính

Sâm bố chính

Nhân sâm có được dùng khi cảm mạo phong hàn?

Khi bị cảm mạo phong hàn (cảm lạnh), chỉ cần sử dụng một số vị thuốc mang tính chất phát tán giải biểu hàn như tía tô, hành ăn với cháo nóng để làm ra mồ hôi là được.

Hoặc dùng thuốc sắc: ma hoàng, quế chi, mỗi vị 9g; hạnh nhân, cam thảo, mỗi vị 6g, sắc uống ngày 1 thang chia 2 lần, trước bữa ăn 1,5 giờ. Hoặc: quế chi, gừng tươi, bạch thược, táo thuốc, mỗi vị 9g; cam thảo 4g, sắc uống như bài trên.

Tuy nhiên, khi sức đề kháng của cơ thể kém, hàn tà xâm nhập gây sốt cao, không có mồ hôi, rét rất nhiều, đau đầu, đau gáy, cứng gáy, mũi ngạt tắc, ho nhiều, cơ thể và chân tay nhức mỏi, đau đớn, toàn thân mệt mỏi thì có thể dùng nhân sâm phối hợp với khương hoạt, độc hoạt, sài hồ, tiền hồ, xuyên khung, chỉ xác, cát cánh, bạch linh, mỗi vị 30g; cam thảo 15g.

Các vị tán thành bột mịn, mỗi lần uống 6 – 9g với nước sắc gừng tươi, ngày 2 – 3 lần, trước bữa ăn 1,5 giờ. Phương thuốc này chỉ phát huy tốt khi dùng dạng thuốc tán, có các vị độc hoạt, khương hoạt, tiền hồ, xuyên khung, trong thành phần chủ yếu là tinh dầu, sẽ bị bay hơi khi sắc thuốc.

Như vậy, chỉ có thể dùng nhân sâm khi bị cảm mạo phong hàn kèm theo chứng thấp. Đây là phương thuốc có tính ích khí vừa làm ra mồ hôi, vừa phù chính, vừa trừ thấp, rất phù hợp với chứng phong hàn hiệp thấp, nhất là khi thời tiết lạnh.

(SKĐS – GS.TS. Phạm Xuân Sinh)

Đoán bệnh qua mắt như thế nào?

shutterstock_38397877

Mắt là cửa sổ của tâm hồn, Điều này không chỉ là tỷ dụ trong văn học, mà còn nói rõ mối quan hệ giữa mắt và sức khoẻ, là rất ăn khớp xát xao. Từ cách đây hơn 1 nghìn năm, y học truyền thống đã sớm nhận định được mối quan hệ mật thiết giữa bộ vị đặc định của mắt với các tạng phủ đặc định trong cơ thể

Thiên đại hoặc luận sách Linh khu nói:

“Tính khí của 5 tạng 6 phủ đều tụ ở mắt mà chế thành tinh. Tổ của tinh là mắt, tinh của cốt là con người, tinh của cơ nhục là ước thúc (sự hạn chế). Tịnh của khí huyết giãn cốt gan lộc ở trong mà có quan hệ với mạch lạc bên ngoài, trên thuộc về não, sau xuất ở đỉnh đầu”.

Điều đó chứng minh rằng: Mắt và tạng phủ các tình huống đều quy thuộc và điều đó đã thành lập thành phương pháp biện chứng độc đáo trong Nhãn khoa của Đông y. Nếu công năng của 5 tạng phủ mất điều hoà sẽ ảnh hưởng đến công năng chính thường của mắt. Nghiên cứu của y học hiện tại đã chứng thực rằng: Rất nhiều loại bệnh đều có thể phản ứng ra ngoài qua các bộ vị của mắt. Người thầy thuốc Đông y giàu kinh nghiệm quan sát mắt và ánh quang của người, đều nhìn thấy được trạng thái sức khoẻ của người ấy, thậm chí còn nhìn thấy được bệnh gì đã xuất hiện trong cơ thể

Các phương pháp ấy như sau:

 

1. Xem màu sắc của lòng trắng mắt như thế nào?

Lòng trắng nhãn cầu của người khoẻ mạnh trắng tinh và có ánh quang, không có màu nào khác. Nếu thấy xuất hiện màu khác hoặc ban điểm là biểu thị nội tạng cơ thể có bệnh,lại từ màu ấy phán đoán nơi có bệnh.

Lòng trắng mắt có màu trắng lam, chủ yếu thấy ở trẻ em và phụ nữ có thai. Lòng trắng mắt phát xanh lam này bề ngoài trông rất đẹp kiều diễm, thực ra đó à biểu hiện của thiếu máu. Phần đông người thiếu máu nặng, lòng trắng mắt đều hiện ra màu trắng pha xanh lam.

Trên lòng trắng xuất hiện duyên điểm, quá nửa là mắc chứng đại tiện trở ngại.

Lòng trắng mắt biền vàng, đó là xuất hiện hoàng dẫn. Hoàng dẫn là do bệnh gan hoặc bệnh đường dẫn mật, trúng độc khi có thai, và một số bệnh làm thành huyết dẫn tới.

Lòng trắng mắt thường có mảng xuất huyết. Đó là xơ hoá động mạch, đặc biệt là tín hiệu của chúng xơ cứng động mạch não.

Lòng trắng mắt thường xuất hiện điểm đỏ nhỏ. Đó là kết quả của sự giãn nở mạt đoạn các mao mạch , thường thấy nhất ở bệnh nhân tiểu đường.

Trên lòng trắng mắt có điểm nhỏ màu vàng, chất cứng, nhiều ít không đều, nói chung đó là sỏi ở kết mạc.

Lòng trắng mắt sung huyết phát đỏ thường do cảm nhiễm vi khuẩn, vi rút phát viêm. Ngoài ra còn có chứng hai mắt phát đỏ lại có chất tiểu (rử mắt) phát ngừa, cảm thấy có dị vật và đau mắt. Khi ấy nên đến bệnh viện Nhãn khoa chẩn trị.

Ngoài ra, người mất ngủ nặng, công năng tim suy nhược, người cao huyết áp trước khi có tai biến não và chứng động kinh trước khi phát cơn đều có thể xuất hiện chứng kết mạc mắt sung huyết. Nếu một mắt phát đỏ, biểu thị cảm nhiễm bệnh tình dục.

Trên lòng trắng xuất hiện màu lam, màu tro hoặc ban điểm màu đen, quá nửa là bệnh giun đũa.

 

2.Quan sát màu chu vi lòng đen nhãn cầu như thế nào?

Chu vi lòng đen nhãn cầu xuất hiện màu đỏ, lại có điểm trắng vẩn đục, đồng thời có chứng đau mắt, sợ ánh sáng, thị lực không tốt, chảy nước mắt … Đó là viêm hồng mạc (viêm màng cầu vồng).

Chu vi lòng đen nhãn cầu xuất hiện màu xanh kim loại rỉ, đó là hạt hình đậu do trong này biên tính biểu thị chất đồng (Cu) tích luỹ quá nhiều, công năng bài tiết chất đồng thất thường sẽ dẫn đến nguy hiểm tính mệnh, nên sớm điều trị.

Chu vi lòng đen nhãn cầu xuất hiện màu trắng hoại còn gọi là giác mạc ế (màng mộng) … trước kia người ta cho rằng đó là biểu hiện chính thường của chứng lão suy. Nhưng gần đây các nhà khoa học nước ngoài nghiên cứu phát hiện rằng: Màu trắng hoại là điềm báo mức độ cholesterol trong máu tăng cao, bệnh nhân xơ cứng động mạch não phần nhiều xuất hiện màu trắng hoại. Chứng này có quan hệ mật thiết với sự phát sinh các bệnh tim.

 

3. Quan sát hình dáng, màu sắc con ngươi (đồng tử) như thế nào?

Con người (đồng khổng) là lỗ giữa của màng cầu vồng (hồng mạc) là cửa thông ánh sáng vào mắt. Con ngươi chính thường là hình tròn, hai bên bằng nhau đường kính độ 2,5mm, màu sắc như màu nước giếng hang động đen, trong suốt thăm thẳm. Nếu cơ quan ước đồng tử co rút thì con người thu nhỏ, do thần kinh giao cảm chi phối, đồng tử có thể tuỳ theo độ cường nhược của ánh sáng mà thu nhỏ hoặc giãn ra. Đó là sự điều tiết.

Trong ánh sáng nội thất thong thường, nếu đường kính đồng tử 1,5mm hoặc to 5mm là không theo quy tắc, phản ứng với ánh sáng bị trì độn thuộc trạng thái bệnh lý.

Đồng tử 2 mắt to nhỏ không đều thường thấy trong bệnh xuất huyết não, não nghẽn máu, u não … Đồng tử mở rộng hay thấy ở chấn thương não, bệnh mạch máu não, viêm não B nặng, viêm màng não có mủ (meningite purulente).

Đồng tử thu nhỏ thường thấy khi trúng độc rượu cồn, trúng độc thuốc ngủ và khối u cầu não của người già, cầu não xuất huyết, cũng có thể thấy ở bệnh tiểu đường (vì thần kinh thực vật điều tiết sự thu hay giãn đồng tử, bệnh tiểu đường làm tổn hại thần kinh này, nên ảnh hưởng công năng điều tiết)..Ngoài ra, trúng độc phốt pho hữu cơ, cũng làm xuất hiện đồng tử nhỏ như đầu kim.

Đồng tử bên to bên nhỏ quá chênh lệch: Lao cột sống, di độc giang mai ở não tuỷ, điều trị sớm có thể khỏi được.

Đồng tử biến màu trắng, thấy trong bệnh đục nhân mắt (catarate) viêm hồng mạc, thanh quang nhãn (glau-come) cận thị nặng, các bệnh toàn thân nặng như tiểu đường, chân tay co quắp, cũng có khi do ngoại thương, thường gặp nhất vẫn là bệnh đục nhân mắt tuổi già. Theo thống kê đục nhân mắt là nguyên nhân hàng đầu làm mắt mất sáng. Khi mắc chứng đục nhân mắt, có thể nhìn qua giác mạc  bệnh nhân, phát hiện trong con người có màu trắng, đó là thuỷ tinh thể (cristallin) của mắt bị vẩn đục, Người đến tuổi già, bệnh tiểu đường hoặc chấn thương mắt đều có thể dẫn đến đực nhân mắt. Nên đến Nhãn Khoa, Nội khoa kiểm tra con ngươi biến màu vàng. Dùng điện quang chiếu xạ vào con người, nơi sâu ở đáy mắt phát xuất tia phản xạ hoàng quang giống như mắt mèo vào ban đêm. Thầy thuốc gọi bệnh mắt này là “mắt mèo” (hắc mông miên nhỡn), quá nửa là biểu hiện của u tế bào ở thị võng mạc (retine). Loại bệnh mắt này phần nhiều thấy ở trẻ em 7- 8 tuổi trở xuống, Bệnh có tính di truyền và tính gia tộc, đó là bệnh ác tính cao độ, nếu không kịp thời điều trị thì tế bào K sẽ phát tán khắp cơ thể, ra ngoài nhãn cầu não và tạng phủ nguy đến tính mạng. Thiểu số chứng này thấy ở bệnh mắt hoá mủ (bệnh hoá mủ của thuỷ tinh thể).

Đồng tử biến màu đỏ thường gặp ở chấn thương mặt hoặc xuất huyết trong mắt. Tuỳ theo xuất huyết nhiều hay ít ở trong mắt mà có các hình thái khác nhau, thị lực cũng theo đó mà tổn hại tuỳ theo mức độ.

Đồng tủ phát màu xanh. Trong nhãn cầu bình thường có một áp lực nhất định. Điều này có tác dụng quan trọng đối với việc duy trì tuần hoàn máu chính thường trong nhãn cầu. Khi nhãn áp quá cao phát sinh bệnh thanh quang nhãn, có thể do giác mạc phát ra thuỷ thũng một loại phản quang màu lục. Bệnh thanh quang nhãn còn gọi là Lục nội chứng cũng do cơ chế này mà thành tên Bệnh nhân thanh quang nhãn có nhãn cầu cứng như da voi, tự mình cũng cảm thấy hai mắt trướng đau. Nếu không kịp thời điều trị có thể bị mù.

 

4.Quan sát sắc trạch của hồng mạc như thế nào?

Hồng mạc là chu vi của con ngươi (đồng tử) gồm có màng mỏng của sắc tố. Hồng mạc của người chủng tộc da vàng phần nhiều có màu vàng cọ. Hồng mạc của người chủng tộc da trắng có màu tro, màu lam  và màu nâu nhạt. Công năng của hồng mạc là điều tiết đổng tử to nhỏ. Nghiên cứu trong năm gần đây chứng tỏ rằng kết cấu của hồng mạc cực kỳ phức tạp, gồm có 5 tầng, có tới hàng nghìn thể cảm thụ tiếp thụ xung mạch của ánh sáng tới. Nhiệm vụ quan trọng này la do các tế bào sắc tố có tác dụng lọc ánh sáng đảm nhiệm. Hồng mạc là một bộ phận của trung khu thần kinh nó phân bố nhiều thể cảm thụ đầy các cơ quan nội tạng trong cơ thể người. Người ta có khoẻ mạnh hay không có thể từ hồng mạc phản anh ra. Trên thề giới đã hình thành một khoa học có quy mô là “hồng mạc chẩn đoán học”.

Khoa học cận đại chứng thực rằng: Trên hồng mạc xuất hiện điểm sáng biểu thị thần kinh não có bệnh nhẹ. Mặt bên của hồng mạc đại biểu cho phổi … dưới đại biểu cho gan. Nếu khu vực nào xuất hiện điểm lõm , chứng minh rằng có ổ loét. Đa số bệnh nhân phong thấp, trên hồng mạc xuất hiện các điểm nhỏ phân tán có các màu khác nhau. Trên hồng mạc xuất hiện ban điểm màu nâu, nếu ở trẻ con quá nửa là biểu hiện chứng giun đũa trong ruột.

Điều thú vị là thông tin mà mắt trái phản ánh lại là tình huống ở nửa thận bên phải. Nếu hồng mạc mắt trái xuất hiện biến đổi khác thường chứng minh rằng nơi nào đó ở nửa thân bên phải có bệnh nhẹ. Nếu hồng mạc cả 2 mắt đều xuất hiện biến đổi khác thường thì thường là bộ vị trung gian hoặc  cả hai đều xuất hiện bệnh biến. Nếu dạ dày ruột có bệnh thì chu vi đồng tử của cả 2 mắt phải và trái xuất hiện ban hoại. Một số bệnh gây cảm giác đau như có thắt tim, nghẽn tắt mạch máu, viêm túi mật cấp tính, loét dạ dày … thì các ban điểm trên hồng mạc đặc biệt rõ nét. Theo thống kê của các phương diện hữu quan, dùng pháp kiểm thị qua hồng mạc có thể chẩn đoán  sớm bệnh co thắt  tim, viêm túi mật, loét hành tá tràng tỷ lệ xác chẩn đạt 80%.

 

5. Quan sát nhãn cầu có lồi ra không?

Có người từ thuở nhỏ hai nhãn cầu đã hướng ra trước (tục gọi là mắt cá vàng). Đó thuộc hình lưỡng nguôi khác nhau không thuộc bệnh lý. Nhưng có người nhãn cầu bỗng nhiên lồi ra. Đó là một loại bệnh Đơn Nhãn lồi, tức là một bên nhãn cầu lồi ra phía trước, nếu nặng có thể ảnh hưởng đến sự đóng mở của mí mắt. Trường hợp một bên nhãn cầu lồi ra, thì  50% là do bệnh tật bên trong gây ra, trong đó thường gặp nhất là u não Hai mắt lồi ra, thường gặp nhất là u năng tuyến giáp trạng (bệnh Basedow), bệnh nhân ngoài chứng lồi mắt còn kèm theo chứng tâm hoang mang và tuyến giáp phì đại, hơn nữa ánh quang mắt đặc biệt sáng hơn: “Ánh mắt long lanh” dáng vẻ hách dịch khinh người. Ngoài ra, bệnh cao huyết áp, bệnh tê dại run rẩy (bệnh Parkinson), bệnh bạch

huyết (Leukose) cũng có thể phát sinh lồi mắt. Ngoài ra, thiếu vitamin họ B, vitamin D cũng dẫn tới chứng lồi mắt nhẹ.

Nguyên nhân phát sinh lồi mắt rất nhiều. Ngoài các chứng bệnh đã nói trên, còn có nguyên nhân của bản thân nhãn cầu. Ví dục: Mắt cận thị nặng, thanh  quang nhãn tiên thiên (glaucome) thanh quang nhãn hậu phát và viêm màng bồ đào … Các bệnh đó đều qua thầy thuốc Nhãn khoa kiểm tra sẽ phát hiện rõ ràng.

 

6.Xem nhãn cầu có lõm hãm không?

Nhãn cầu lõm hãm phần nhiều thấy ở người cơ thể gầy gò nghiêm trọng. Ngoài ra, khi tâm  tình đau khổ cực độ, hoặc bị các chứng mất nước nặng dẫn tới như hoắc loạn (cholera) mắt bị gẫy hoặc các chứng tê dại dây thần kinh giao cảm cổ cũng dẫn tới nhãn cầu lõm hãm.

Người tiếp cận với cái chết, nhãn cầu lõm hãm lại kèm theo một loạt tư tưởng (tưởng chết): ánh mắt ngốc trệ, đồng tử giãn rộng không có ánh quang trạch, đầu mũi nhọn, cánh mũi phập phồng, má có màu chì, không biểu lộ tình chí. Người thầy thuốc giàu kinh nghiệm thường dựa vào các tư tưởng ấy mà dự đoán thời kỳ chết của người có trọng bệnh.

Đông y cho rằng: ổ mắt hạ hãm phần nhiều là thương tân thoát dịch, dựa vào mức độ hạ nhẹ. Con ngươi hạ hãm như tổ chum là tinh khí lục phủ ngũ tạng đã suy, bệnh khó chữa. Nếu chỉ hơi hãm, là tinh khí tạng phủ chưa thoát, bệnh có thể cứu chữa. Nếu lý hãm đã sâu, nhìn không thấy người, mạch chân tạng hiện ra, đó là tử chứng vì âm dương kiện tuyệt.

 

7. Xem quang trạch của nhãn cầu như thế nào?

Quang trạch là độ sáng bóng và tươi tắn. Nhãn cầu khô táo, không có quang trạch đa số là do thiếu vitamin A, Người lớn, trẻ em thiếu vitamin A thì kết mạc nhãn cầu khô táo (xerois) lông thôm\, thậm chí mắt mù loà. Người chưa mù hẳn, đến chiều tối cùng biến thành mù (héméralopie). Tuy vậy ở các thành phố lớn hiện nay rất ít gặp, nhưng địa khu biên giới và nông thôn vẫn phải đề phòng.

 

8. Xem thần thái của mắt như thế nào?

Mắt người khoẻ mạnh sáng sủa, long lanh có thần, lòng trắng kh6ng có màng mộng, đồng tử đen sáng và không vẩn đục, có thể tuỳ theo độ ánh sáng mạnh yếu mà mở to thu nhỏ, nhãn cầu chuyển động linh hoạt.

Người bệnh lâu ngày thể nhược, hoặc âm thịnh dương suy, thì thường là hai mắt vô thần, ánh mắt tối ám kém tươi trên nhãn cầu tự như có vật đục vẩn lên như mây che không trong sáng, là có bệnh khó chữa.

Tinh thần bệnh nhân có nhãn cầu vẩn đục phản ứng chậm và dộn, thường biểu lộ là hưng phấn quá độ và phiền táo dễ giận.

 

9. Xem biến đổi của mí mắt như thế nào?

Mí mắt tục gọi là nhãn bì (da mắt) ở trước khuông mắt, chia hai bộ phận trên và dưới, do da, cơ nhục, và kết mạc tạo thành, bờ mép có lông mi mọc, làm thành tấm bình phong ngự ngoại vật xâm phạm. Người bìnht hường thì khi

nhắm mắt, mí trên và mí dưới kết hợp khít chặt, Người mù thì mí trên hướng lên, mí dưới hạ xuống. Khi hai mắt mở ra nhìn ngang bằng, mí trên che bờ trên giác mạc độ 2mm, toàn bộ đồng tử hoàn toàn lộ ra ngoài, ánh  sáng thông qua không  trở ngại, bảo đảm công năng thị giác chính thường.

 

Biểu hiện của mí mắt không bình thường có:

a. Mí mắt có màu tro tối:

Thường vì mệt nhọc quá độ không đủ, hoặc vì phòng sự qua độ dẫn tới.

Đông y cho rằng quầng mắt màu đen là do thận suy, vì đen là bản sắc của thận. Mắt dựa vào tinh khí 5 tạng mà được tư dưỡng. Nếu phòng sự quá độ, thận tinh hao tổn thì 2 mắt thiếu tinh khí để tư nhuận, cho nên màu đen của thận phù việt lên trên, làm cho hai mắt vô thần, quầng mắt màu đen. Nếu hay tiết chế sinh hoạt tình dục, chú ý điều nhiếp, quần mắt đen sẽ được cải thiện, Nói chng, ngẫu nhiên mà quầng mắt đen, chỉ cần chú ý uống nắn nhịp điệu sinh hoạt, tránh để quá mệt nhọc, đồng thời dùng ngón tay nhẹ nhàng mát xa da xung quanh ổ mắt nhưng nếu quầng mắt mắt phát đen lâu dài thì đó là một trạng thái bệnh lý, thường là một loại tín hiệu của chứng thận suy và huyết ứ. Theo nghiên cứu của Đông y hiện đại và Đông tây y kết hợp chứng minh rằng: Bệnh nhân thận suy nặng và trong có huyết ứ thường là tuyết nội tiết và sự chuyển hoá gặp chướng ngại, công năng vỏ tuyến thượng thận rối loạn, bệnh biến ở tim mạch và chướng ngại vi tuần hoàn, các bệnh tiêu hao mạn tính là những nhân tố hữu quan

 

b. Mí mắt phù thũng:

Thuộc về nhân tố sinh lý gồm có: Ngủ không đủ giấc, khi ngủ gối đầu quá thấp, sau khi chảy nước mắt nhiều. Thuộc về nhân tố bệnh lý gồm có kết mạc mí mắt phát viêm, bệnh tim, viêm cầu thận …

 

c. Mí mắt sưng đỏ:

Chỗ sưng có cảm giác đua thời kỳ đầu có thể sờ thấy khối cứng, về sau hoá mủ và vỡ loét, người nhẹ thì bệnh tự tiêu thoái. Phần nhiều là viêm tuyến mí mắt tục gọi là “lẹo mắt” (orgelet).

 

d. Mí mắt tía ám sung huyết

Dưới da mắt có thể sờ thấy vật hình tròn không dính vào da, không có hiện tượng sưng đỏ và đau, phần nhiều là sưng túi tuyến lệ tục gọi là chứng “hà lạp thũng”.

 

e. Sa mí mắt

Có hai loại: Tiên thiên và Hậu thiên. Tiên thiên là khi đẻ ra đã có rồi, đợi khi lớn lên thì đến Nhãn khoa làm thủ thuật treo là khỏi, loại hậu thiên là do bệnh tật dẫn tới, Mạch máu não và thiếu vitamin B1.

 

f. Chứng lông mi quặm

Lông mi đổi hướng quay về phía sau, hướng vào giác mạc, tục gọi là “lông quặm”. Nếu kèm theo mí mắt lật vào trong gọi là “liễm nội phán”. Lông quặm ma xát giác mạc sinh ra đau ngứa, chảy nước mắt, kết mạc sung huyết, lâu ngày tạo thành giác mạc đục và loét. Nguyên nhân dẫn đến mắt lật vào trong là bệnh mắt hột (trachome) viêm bờ mi (blepharite) co quắp  mi mắt …

 

g. Mí mắt lật ra ngoài:

Mí mắt lật ra ngoài là chỉ mí rời xa mặt trước nhãn cầu, thậm chí chuyển lật hướng ngoại làm cho kết mạc lộ ra ngoài. Nói chung hay gặp ở các chứng sẹo mí mắt, liệt thần kinh mắt, và số ít người già da lỏng lẻo …

 

h. Mí mắt không thể nhắm được:

Khi không thể nhắm kín được mắt gọi là “miễn nhãn”. Đó là một trong những đặc trưng của bệnh liệt thần kinh mặt (liệt dây thần kinh VII). Nếu là trẻ em hoặc nhắm không chặt, đó là biểu hiện tỳ vị hư nhược, loại trẻ em này cần phải chú ý thói quen ăn uống, ăn ít thức ăn sống lạnh.

 

i. Kết mạc mí mắt màu trắng xanh

Phần nhiều là thiếu máu, tự mình có thể đứng trước gương dùng ngón tay lật mí mắt dưới ra, có thể thấy được rõ ràng.

 

k. Trên mí mắt xuất hiện khối ban màu vàng

Loại ban điểm màu vàng xuất hiện ở mí mắt trên gọi là “hoàng sắc lựu” (bướu vàng). Điều đó phản ánh mỡ huyết trong cơ thể quá cao, dễ mắc bệnh tim mạch. Người có bướu vàng này nên đến y viện kiểm tra để xác chẩn.

Ngoài ra còn cần chú ý kiểm tra đáy mắt. Đáy mắt giống như mặt gương, rất nhiều bệnh của cơ thể người đều có thể phản ánh từ đó ra. Mạch máu của đáy mắt là huyết quản toàn thân, chỉ cần dùng mắt thường quan sát được. Đó cũng là cửa sổ duy nhất để cho thầy thuốc trên lâm sàng quan sát động mạch của toàn thân

Có người nhìn ngoài con mắt, không thấy gì khác thường, chỉ có kiểm tra đáy mắt có thể phát hiện bệnh biến ở đáy mắt. Từ 40 tuổi về sau, nên mỗi năm kiểm tra đáy mắt một lần. Điều đó có ý nghĩa quan trọng đối với việc dự phòng và phát hiện các bệnh tim mạch

(Nguồn: Thư viện điện tử)

 

An cung ngưu hoàng hoàn có phải là “Thần dược”?

 an-cung-nguu-hoang-hoan(1)

Trong mươi năm gần đây, với sự gia tăng nhanh chóng của bệnh lý đột quỵ não, khá nhiều loại thuốc Đông y có nguồn gốc cổ phương hay tân phương, trong nước hay ngoài nước có công dụng dự phòng và trị liệu đã được các thầy thuốc và người bệnh biết đến và sử dụng.

Một số thuốc như Hoa Đà tái tạo hoàn, Ngưu hoàng thanh tâm nguyên, Tâm não hoàn, Đại lạc hoạt đan, Nhân sâm tái tạo hoàn,… đặc biệt là An cung ngưu hoàng hoàn (ACNHH).

 

ACNHH không phải là thần dược

Trên thực tế hiện nay, vì nhiều lý do khác nhau, việc nắm vững công dụng, chỉ định, chống chỉ định và cách dùng cụ thể chế phẩm này vẫn còn không ít khiếm khuyết nên dẫn đến nhiều hậu quả xấu không đáng có cho sức khỏe và tính mạng người bệnh.

Có người cho rằng cứ đột quỵ là dùng ACNHH, thậm chí không ít người đã trữ sẵn trong nhà một vài viên thuốc này và sử dụng một cách rất tùy tiện khi có biến cố mà không cần đến sự tư vấn của các thầy thuốc có chuyên khoa.

Nhiều nhà thuốc, nhiều trình dược viên, thậm chí cả những thương nhân không có chút nào kiến thức về y học cổ truyền đã khuyên những người cao tuổi và những người có nguy cơ bị đột quỵ nên uống ACNHH định kỳ như một thứ “thần dược” để phòng bệnh một cách tùy tiện vì mục đích lợi nhuận.

Theo dược học cổ truyền, ACNHH có công dụng thanh nhiệt giải độc, trấn kinh khai khiếu, trừ đàm, chuyên trị ôn nhiệt bệnh, nhiệt tà nội hãm tâm bào, đàm nhiệt ủng bế tâm khiếu dẫn đến sốt cao phiền táo, thần hôn thiềm ngữ (hôn mê, rối loạn ngôn ngữ) hoặc thiệt kiển chi quyết (lưỡi rụt, chân tay giá lạnh), trúng phong khiếu bế (hôn mê do đột quỵ não), tiểu nhi kinh quyết thuộc đàm nhiệt nội bế (trẻ em co giật do sốt cao).

Kết quả nghiên cứu hiện đại trên thực nghiệm cho thấy, ACNHH có tác dụng hồi tỉnh, giải nhiệt, trấn tĩnh, chống co giật, chống viêm, tiêu thũng, hạ huyết áp, cải thiện công năng tim, nâng cao năng lực chịu đựng của tế bào cơ tim trong điều kiện thiếu ôxy.

Trên lâm sàng, kế thừa kinh nghiệm của cổ nhân, ACNHH đã được nghiên cứu trị liệu đột quỵ não (trúng phong) trong giai đoạn cấp tính chứng minh hiệu quả cải thiện rõ rệt triệu chứng, làm giảm tỷ lệ tử vong và rút ngắn giai đoạn cấp tính của chế phẩm này. Nhưng, khi sử dụng ACNHH cần hết sức lưu ý những vấn đề sau đây:

Phải dùng đúng thể bệnh

ACNHH là loại thuốc “bệnh” thuộc nhóm khai khiếu chứ không phải là thuốc “bồi bổ” và được dùng để chữa nhiều mặt bệnh chứ không riêng gì trúng phong như nhiều người lầm tưởng.

Với trúng phong, ACNHH chỉ được dùng cho thể bệnh Đàm nhiệt nội bế thanh khiếu với các chứng trạng như khởi phát đột ngột, có thể có sốt, ý thức u ám hoặc hôn mê, liệt nửa người, thở khò khè, nhiều đờm rãi, chân tay co cứng hoặc co giật, cổ gáy cứng, tinh thần hoảng loạn, mê sảng, chất lưỡi đỏ giáng, chất lưỡi vàng dính hoặc vàng khô, mạch huyền hoạt…, thuộc thực chứng

Còn các thể bệnh khác như Khí hư huyết ứ, Âm hư phong động, Lạc mạch không hư phong tà nhập trung, Nguyên khí bại thoát thần minh tán loạn… tuyệt đối không được dùng. Nếu dùng không đúng thể bệnh là hết sức nguy hại khiến bệnh nặng thêm, thậm chí có thể gây tử vong.

Thuốc có độc tố không được tự ý sử dụng

ACNHH là loại thuốc có sức công phá mãnh liệt bởi được cấu thành từ các vị thuốc có dược tính mạnh như ngưu hoàng, thủy ngưu giác (thay thế cho tê giác trong nguyên phương), xạ hương, chu sa, hoàng liên,… cho nên khi sử dụng phải căn cứ vào bệnh tình cụ thể, tuổi tác, thể trạng của bệnh nhân… mà quyết định liều lượng, thời gian và liệu trình dùng thuốc cho phù hợp, tránh gây nên những phản ứng bất lợi cho người bệnh.

Hơn nữa, trong ACNHH có chứa chu sa với thành phần chủ yếu là sulfur thủy ngân HgS, hùng hoàng là một sulfur asenic ArS có độc nên mặc dù lượng các vị thuốc này trong thành phần ở dưới mức cho phép nhưng cũng không vì thế mà lạm dụng về liều lượng và thời gian sử dụng.

Tai biến mạch máu não

Tai biến mạch máu não

Các sách thuốc cổ đều nói chu sa không được dùng lâu và dùng nhiều vì có thể làm cho người thành si ngốc. Nhiều tác giả cho rằng không nên dùng ACNHH kéo dài quá 2 tuần và nếu bệnh cần phải dùng thêm thuốc này thì cũng phải nghỉ thuốc từ 2 đến 3 tuần rồi mới dùng tiếp.

Vậy nên, khi dùng ACNHH nhất thiết phải được các thầy thuốc có chuyên khoa khám, chỉ định, hướng dẫn và theo dõi tỉ mỉ, tuyệt đối không được tự ý sử dụng.

Cảnh giác với ACNHH giả

Trên thị trường hiện nay có khá nhiều loại ACNHH khác nhau, nguồn gốc phức tạp, thật giả lẫn lộn và giá cả cũng hết sức đa dạng. Có loại của Trung Quốc, Hàn Quốc, có loại đựng trong hộp bọc vải nhung đỏ hay xanh hoặc hộp gỗ, có loại đóng hộp 1 viên, 2 viên, 6 viên hoặc 10 viên, có loại giá 250000 đồng/viên, có loại 600000 đồng, có loại 1800000 hoặc 2000000/viên nhưng thật giả không phân biệt được.

Tình trạng mua phải của “rởm” để rồi lâm vào tình cảnh “tiền mất tật mang” không phải là hiếm. Vậy nên, khi có nhu cầu sử dụng, người tiêu dùng nên mua ACNHH ở những cơ sở kinh doanh có đủ giấy tờ cho phép và tư cách pháp nhân.

Trên thực tế hiện nay, người viết bài này được biết có 2 công ty dược phẩm đã được Bộ Y tế cấp phép cho nhập khẩu và kinh doanh ACNHH. Đây là nguồn thuốc chính thống đảm bảo chất lượng, điều trị còn lại hoàn toàn là hàng trôi nổi, không rõ nguồn gốc và xuất xứ.

Không ít gian thương đã “nhái” lại mẫu mã bên ngoài của ACNHH mà ruột bên trong chỉ là những thứ thuốc hoàn mềm bình thường để trục lợi.

(Thạc sĩ Hoàng Khánh Toàn)

Hậu quả do tự ý sử dụng thuốc

Vừa qua, khoa Hồi sức tích cực Bệnh viện Bạch Mai đã tiếp nhận và điều trị một bệnh nhân nam 50 tuổi, nhập viện trong tình trạng hôn mê sâu, xuất huyết tiểu não, nhiễm khuẩn phổi, thở yếu, đồng tử giãn…

Người nhà cho biết, trước đó bệnh nhân có biểu hiện đột ngột liệt nửa người, không nói được, người nhà đã cho uống viên An cung ngưu hoàng hoàn, 3 viên/ngày, dùng liền 7 ngày. Sau đó bệnh nhân kêu đau đầu dữ dội, nôn mửa rồi hôn mê.

Trước đó, bệnh viện cũng đã tiếp nhận một bệnh nhân nam 74 tuổi, có tiền sử tăng huyết áp, đái tháo đường, đột quỵ… uống 2 viên/ngày uống liền 12 ngày. Sau 15 ngày uống An cung ngưu hoàng hoàn, bệnh nhân rơi vào hôn mê, rối loạn đông máu, chảy máu mũi, miệng… nên người nhà đưa nhập viện.

Tại sao phải ăn kiêng khi dùng Đông dược?

Y học cổ truyền thường kiêng đậu xanh và cải bẹ khi dùng thuốc vì hai thứ này được coi là “giã thuốc”. Chúng có tác dụng lợi niệu nên Đông y cho rằng sẽ làm tăng khả năng thải trừ của thuốc, ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị.

Khác với các chế phẩm tân dược, thuốc Đông y có nguồn gốc từ thiên nhiên phong phú. Mỗi vị thuốc được đặc trưng bởi tính và vị. Tính là tứ khí: hàn, lương, ôn, nhiệt, chỉ mức độ nóng, lạnh khác nhau của vị thuốc. Còn vị có ngũ vị (5 vị cơ bản): cay, chua, ngọt, đắng, mặn (ngoài ra còn có vị nhạt và vị chát). Tính và vị của thuốc có quan hệ một cách hữu cơ với nhau, không thể tách rời, tồn tại một cách khách quan như tự nhiên đã sinh ra nó. Mỗi vị thuốc lại có những khuynh hướng tác dụng khác nhau: có vị chủ thăng đi lên, có vị chủ giáng đi xuống, chủ phù hướng ra phía ngoài, chủ trầm đi vào phía bên trong. Từ đó mà tạo ra công năng chữa bệnh của từng dược liệu.

Khi được uống vào cơ thể, thuốc phát huy tác dụng nhờ sự quy nạp khí vị tinh hoa (hoạt chất) vào các tạng phủ, kinh mạch nhất định. Sự quy kinh ấy giống như sự phân bố các dược chất đến các cơ quan đích trong y học hiện đại. Những tác động liên quan đến quá trình này đều ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị của thuốc, nhất là chế độ ăn uống, kiêng khem, cách thức uống thuốc…

Một số điều kiêng kỵ khi dùng thuốc Đông y

Trong thời gian dùng thuốc, người bệnh cần tránh ăn một số thực phẩm mang tính đối lập với chiều hướng của thuốc:

Khi dùng các thuốc thanh nhiệt, giải độc để điều trị các chứng dị ứng, nên tránh ăn các loại hải sản như cua, cá biển, sò, ngao…, nhộng, lòng trắng trứng (albumin). Đây là những protein lạ sẽ làm tăng thêm nguy cơ dị ứng. Đông y khuyên khi dùng thuốc có kinh giới để chữa phong ngứa thì không nên ăn thịt gà vì thịt gà, nhất là da gà dễ gây phong ngứa.

Chẳng hạn, khi dùng thuốc thanh nhiệt an thần, nếu bạn ăn các chất mang tính kích thích có vị cay, nóng (như rượu, ớt, hạt tiêu, thịt chó) thì chúng sẽ làm cho tà nhiệt nặng thêm.

Khi dùng các thuốc giải cảm, cần kiêng ăn các chất chua mặn vì thuốc có tính chất phát tán, phát hãn mà vị chua mặn lại có tác dụng thu liễm, ngược chiều tác dụng của thuốc.

Thuốc ôn lý, trừ hàn, thuốc tân ôn giải biểu mang lại sự ấm áp cho cơ thể, không nên ăn các thức ăn tanh, lạnh như cua, ốc, thịt trâu, ba ba, rau sống, rau giền, mùng tơi… vì những thức này làm cho hàn tà khó giải.

Thuốc kích thích tiêu hóa, bổ dạ dày, kiện tỳ, tiêu thực (đặc biệt là các thuốc chữa bệnh cam trẻ em) cần kiêng ăn các chất dầu mỡ, khó tiêu. Những thức ăn này gây nê trệ, làm cho sự hấp thu của hệ tràng vị vốn đã kém lại càng khó khăn hơn.

Thuốc có mật ong thì không nên ăn hành bởi hành làm mất mùi thơm, vị ngọt của thuốc, hạn chế tác dụng nhuận bổ của mật ong và có những tương tác bất lợi. Hành giã nát trộn với mật ong chỉ được dùng ngoài trị bệnh viêm da có mủ.

Những thuốc thanh phế trừ đờm khi dùng không nên ăn chuối tiêu vì dễ gây rối loạn tiêu hóa. Khi uống các thuốc bổ, không nên ăn các chất lợi tiểu như cải bẹ.

Trong thời gian uống thuốc, không nên uống nước chè hoặc sữa bởi dịch sắc thuốc bao gồm các chất có thành phần hóa học khác nhau, thường gặp là glycosid, alcaloid, đường, tinh bột, acid hữu cơ, flavonoid, các chất gôm, nhựa, pectin, các tinh dầu chứa nhân thơm, tanin và một số muối vô cơ khác. Khi dùng chung nước chè và sữa, chúng dễ tạo ra các phức hợp gây cản trở cho việc hấp thu, ảnh hưởng tới tác dụng của thuốc.

Tuy nhiên, việc kiêng kỵ cũng chỉ là tương đối, không nên thái quá. Cần chú ý bảo đảm đủ chất cho cơ thể, đừng quên rằng chế độ dinh dưỡng cũng góp phần quan trọng phục hồi sức khỏe.

(DS Phạm HinhSức Khỏe & Đời Sống)

Tại sao con người lại già đi?

Tại sao con người lại già đi?

Cuộc sống đã cho ta hưởng thụ mật ngọt tuổi trẻ, hưởng thụ một cơ thể cường tráng chiều theo mọi ý thích thất thường của chúng ta, để làm cho chúng ta hoài tiếc vào phần nửa sau cuộc đời. Chao ôi, cơn ác mộng khi nhìn thấy những sợi tóc bạc đầu tiên, những nếp nhăn chân chim hiện ra ở đuôi mắt, những cơ bắp không còn chiều theo ý muốn… lại càng đau khổ hơn khi biết đó mới chỉ là những dấu hiệu đầu tiên của tuổi già.

Nhưng dù sao chúng ta cũng cảm thấy một sự kỳ lạ. Tại sao sự lựa chọn tự nhiên mà bình thường vẫn làm đủ mọi cách để kiến tạo nên những cá thể ở đỉnh cao, được trang bị để sống và tồn tại trong những điều kiện khắc nghiệt nhất, lại được bảo tồn trong quá trình tiến hóa một cơ chế để cho các sinh vật trở nên yếu ớt trước tuổi tác?

Ý nghĩa đầu tiên là tuổi già không phải được sáng tạo ra để cho chúng ta phải chết. Đúng thế, sự lão hóa đã ghi dấu mật mã trong các gen. Chính mật mã lão hóa theo dòng thời gian tế bào bị hao mòn, sẽ ngừng phân chia và tự sửa chữa. Tới một thời điểm nào đó, không còn đủ loại tế bào hoạt động đúng mực để làm cho các cơ quan giữ chức năng sống hoạt động tốt (tim, phổi, não) và con người sẽ chết. Bằng phương pháp như vậy, người ta nhường chỗ cho các thế hệ hậu sinh để tạo lập sự trù phú phồn vinh trên hành tinh.

219tai-sao-con-nguoi-gia-di

Con người… già đi do một trường hợp ngẫu nhiên đặc biệt!

Cứ tạm công nhận giả thuyết này. Nhưng người ta vẫn có thể tự cho rằng lão hóa khi làm cho những cá thể có tuổi cao yếu ớt hơn, dễ bị bệnh tật hơn, giúp loại trừ những người già để nhường chỗ cho người trẻ. Nhưng chính ở điểm này ta vẫn tự hỏi: có gì lợi hơn nhỉ? Thoạt đầu, ta thấy một người cao tuổi, nếu như không già đi, đâu phải là “tồi tệ hơn” một người trẻ tuổi. Những gen người cao tuổi đâu có tốt hơn hay xấu hơn và trong suốt cuộc đời, người cao tuổi đã tích lũy được thêm nhiều tri thức làm cho người đó khôn ngoan, năng động hơn hậu duệ của mình. Vậy chưa thấy lý do gì mà phải loại trừ cái con người bị coi là “cao tuổi” này đi! Tới hiện thời, các nhà khoa học đều thống nhất ý kiến cho rằng các gen làm cho chúng ta già đi được lưu giữ, không phải để dẫn chúng ta tới cái chết. Vậy là vì sao? Ấy thế đấy, nhưng một điều bí ẩn kỳ lạ, sự lão hóa được ghi khắc vào cuộc sống của chúng ta… do một trường hợp ngẫu nhiên đặc biệt! Trong thực tế, có thể là do một sự tích lũy lỗi trong các gen, các lỗi không khử bỏ được vì hiệu ứng độc hại của chúng chỉ xuất hiện sau tuổi sinh sản. Và chúng ta có thể di truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Kỳ lạ chưa?

Ưu tiên… cho tính sinh sản!

Một khám phá căn bản giúp cho các nhà nghiên cứu hình thành ra một giả thuyết mới: nếu các khuyết tật đã được bảo lưu trong quá trình tiến hóa, điều đó không phải vì chúng không phải bị loại trừ đi. Nhưng có lẽ cũng còn vì tính lão hóa do chúng di truyền giúp cho các sinh vật sinh sản tốt hơn. Như thế nào? Bằng con đường tiết kiệm năng lượng. Đúng vậy, khi bản lưu cho một cơ thể hoàn toàn khỏe mạnh trong cả cuộc đời, cần tới sự đầu tư lớn. Cần sửa chữa các tế bào bị hư hại, sửa các khuyết tật xuất hiện trong các gen, tránh cho các cơ quan chèn ép lẫn nhau… Cái giá phải trả cũng khá đắt và không phải lúc nào cũng có hiệu quả, với dữ kiện như ta đã biết là cơ thể liên đới sẽ có thể có một ngày nào đó bị phá hủy bởi một vật ăn mồi, vi khuẩn hay tai nạn. Để cho cơ thể già đi, thoái biến đi là giảm đầu tư về thời gian và năng lượng để bảo tồn. Đồng thời, phần tưởng rằng hao phí vô ích sẽ được đầu tư cho sự sinh sản: như trang bị cho các con vật đực cặp sừng khỏe mạnh để chiến đấu hoặc có bộ lông vũ rực rỡ để quyến rũ con vật cái, nhằm đi vào sự sản sinh ra thêm tế bào sinh dục nhiều hơn và khỏe hơn…

Ta không nên có ý nghĩ rằng tự nhiên có tính keo kiệt! Ngược lại thì có. Tự nhiên đã hiến tặng cho từng loài khả năng tồn vong dài nhất có thể có được… với điều kiện không ngăn cản nhiệm vụ căn bản: sự sinh sản. Nào có lợi ích gì thêm đâu khi trang bị thật tốt cho một loài cây hoặc một loài vật để chúng sống tới 60 năm, vì dù sao, trong môi trường sống khắc nghiệt nguy hiểm, chúng sẽ nhanh chóng bị một con vật ăn mồi giết chết hoặc nạn hạn hán làm cho khô héo lụi tàn. Tối ưu nhất là trang bị cho các loài một kho vũ khí sinh sản siêu hiệu quả, vì trong khoảng thời gian tồn tại ngắn ngủi thì chúng có thể sinh ra lượng tối đa con cái.

Ở một số loài động vật và thực vật, dạng logic tự nhiên đã được đẩy tới cực điểm: chúng chỉ sinh sản một lần trong đời và sau đó chết luôn. Điển hình là trường hợp con cá hồi. Khi tới tuổi sinh sản, cá hồi rời vùng biển nơi chúng đã lớn lên và đi ngược các dòng sông để tới nơi đẻ trứng ở vùng nước ngọt. Một cuộc hành trình cạn kiệt sức lực và đầy gian nan nguy hiểm: bơi ngược dòng suốt ngày này qua ngày khác, vượt gềnh thác và né tránh rất nhiều loài vật săn mồi. Không ít cá hồi chết trên con đường tới nơi sinh sản. Nhưng các con tới được sẽ đẻ trứng và thụ tinh cho hàng ngàn trứng. Rồi chúng kiệt sức và chết ngay sau đó. Chúng cũng không cần tiết kiệm năng lượng để trở lại biển cả và tái lập lại thí nghiệm. Cuộc hành trình quá nguy hiểm và đầy chết chóc nên khó có xác suất để cho một cá thể có thể sống được tới hai lần. Ngược lại, có các loài khác như rùa khổng lồ có rất ít kẻ thù là các con vật săn mồi khi rùa đã trưởng thành. Rùa có tuổi thọ cao hơn nhiều – tới 40 năm – và đẻ trứng sinh con nhiều lần. Tới mùa sinh sản, rùa khổng lồ tới vùng bãi cát ven biển đào lỗ đẻ trứng và không đợi cho trứng nở, quay trở lại biển khơi. Do đặc tính sinh sản của rùa không chắc chắn, nên ưu thế nhất là rùa phải sống lâu và đẻ trứng nhiều lần cho tận cuối đời.

Có một điểm chắc chắn mà ta có thể khẳng định là tới ngày nay, đối với mỗi loài, phần năng lượng dành cho tồn vong và phần dành cho sinh sản đều ở mức tối ưu nhất. Có lẽ thật nguy hiểm khi ta thử nghiêng cán cân thăng bằng về phía này thí phía kia sẽ gặp nguy hiểm. Đó là lời báo động với những ai mong ước chơi trò với tuổi già.

(SKĐS – TRẦN HÙNG (Theo JVJ)

Vì sao chúng ta… già?

Ngày trước đời sống kham khổ, thiếu thốn đủ thứ, bệnh tật đủ loại… tuổi thọ trung bình của con người chỉ khoảng 30; 40, 50 và 70 tuổi được xem là “cổ lai hy”!

Nhờ sự phát triển của khoa học (vệ sinh, y khoa, dịch tễ, dinh dưỡng, môi trường, xã hội, tâm lý, v.v…), chất lượng cuộc sống ngày càng cao, nên tuổi thọ trung bình của con người đã được nâng lên, tỷ lệ người già sống trên 70 tuổi không còn là hiếm.

Thế nhưng, vẫn có 1 câu hỏi đặt ra: Cái gì làm con người già đi? Chúng ta cùng tìm hiểu qua bài viết sau đây của BS Nguyễn Lân Giác.

Có rất nhiều giả thuyết được đưa ra để giải thích hiện tượng lão hóa.

1. Thuyết di truyền có lẽ là thuyết khoa học nhất. Theo thuyết này thì con người có sẵn trong các tế bào của mình một chương trình – mang trong các “gen”. Các gen hoạt động theo thứ tự, bất di bất dịch. Sinh, lão, bệnh, tử. Y khoa đã làm “bệnh” giảm rất nhiều nhưng “tử” thì vẫn còn, tuy có chậm hơn đôi chút.

2. Thuyết mô liên kết (collagen). Mô liên kết là những sợi đàn hồi (số elastine) đa dạng, là cái nền của tất cả các loại mô trong cơ thể: xương, sụn, gân, da, động mạch lớn nhỏ, các cơ trơn, các bộ phận, v.v… Với thời gian các sợi này mất dần tính đàn hồi… Thuyết này giải thích sự lão hóa của các mô, nhưng xét cho cùng thì cũng do gen “quyết định” cả.

3. Thuyết gốc tự do. Thuyết này cho rằng các gốc tự do – được phóng ra trong tế bào khi tế bào chuyển hóa các axít béo không bão hòa – gây tổn thương các tế bào, làm chúng yếu, già đi… Cần nhận định rằng “gốc tự do” là khí giới của các tế bào (thuộc hệ miễn nhiễm) giúp chúng ta chống trả các vi khuẩn khi chúng xâm nhập vào cơ thể. Như vậy có thể hiểu hiện tượng lão hóa – cũng như nhiều bệnh gặp ở tuổi trẻ – là do sự “tẩu hỏa nhập ma” của các tế bào thuộc hệ miễn nhiễm!

4. Thuyết kích tố. Thuyết này dựa vào nhận xét rằng mọi giai đoạn của đời sống đều do kích tố điều hành. Lúc nhỏ có kích tố tăng trưởng. Từ tuổi dậy thì có các kích tố nam, nữ. Khi sự bài tiết các kích tố yếu đi thì cơ thể già dần. Còn nhiều loại kích tố khác cũng ảnh hưởng tới sự lão hóa, ví dụ như DHEA và Melatonin.

5. Thuyết hao mòn. Theo thuyết này thì mỗi tế bào có một cái như cái tràng hạt, mỗi lần phân chia thì mất đi một hạt. Khi không còn hạt nào thì phải… “thác về”! Nhưng các nhà nghiên cứu nhận thấy rằng các tế bào ung thư có khả năng tái tạo các hạt này; họ hy vọng sẽ tìm ra cái bí quyết này rồi sẽ “mách” cho các tế bào bình thường!

6. Thuyết chất thải. Thuyết này ví cơ thể như một động cơ (lấy năng lượng từ các phản ứng sinh hóa), khi chạy thì thải ra chất cặn (như động cơ nhả ra khói vậy). Chất cặn ứ đọng dần trong tế bào, làm tế bào già yếu đi.

7. Thuyết DNA dị biến. DNA là thành phần cấu tạo nên gen, mật mã di truyền của mọi sinh động vật. Dưới ảnh hưởng của các “hạt vũ trụ” thường xuyên bay rất nhanh trong không gian vô tận, xuyên qua cả các hành tinh và dĩ nhiên là qua cả cơ thể của chúng ta từ mọi hướng, cấu trúc của DNA có thể bị thay đổi…

8. Thuyết tự miễn. Theo thuyết này thì sự lão hóa cũng như một số lớn các bệnh của tuổi già là do các tế bào của hệ miễn nhiễm tấn công các tế bào bình thường. Nhưng nhiều người trẻ cũng bị các bệnh tự miễn như bệnh luput, bệnh tiểu đường loại I, bệnh viêm khớp dạng thấp, bệnh Hashimoto (của tuyến giáp), bệnh Addison (của tuyến thượng thận), v.v… (do sự lầm lẫn của hệ miễn nhiễm).

9. Thuyết virus bướu RNA. Virus bướu RNA là một loại virus có thể xâm nhập dễ dàng vào tế bào, trà trộn lẫn với các RNA lành của tế bào, làm xáo trộn sự tăng trưởng của tế bào. Kết quả là tế bào già yếu đi.

10. Thuyết stress. Stress là tình trạng tinh thần bị kích động bởi đời sống nói chung. Một đời sống có nhiều căng thẳng lớn hay nhỏ sẽ làm con người già đi rất mau. Những người sống thảnh thơi thoải mái thường ít bệnh tật và trẻ lâu.

Các thuyết nêu trên chỉ là những giả thuyết nhưng cũng đủ để chúng ta thấy rằng việc đi tìm nước suối tiên, tìm thuốc trường sinh hay phép lạ nào đó nhằm kéo dài đời sống… là chuyện hão huyền, viển vông! Trong thực tế, hiện tượng lão hóa có thể chỉ là kết quả của sự ăn uống không đúng phép, của tật biếng nhác – nghĩa là thờ ơ với mọi việc và uể oải trong hoạt động thể chất – nhiều hơn là của tuổi tác. Do vậy, một cuộc sống lành mạnh chắc chắn sẽ là phương thuốc hữu hiệu nhất để làm chậm quá trình lão hóa ở mỗi con người.

(Theo YKhoa)

Ai làm ta già?

Vì sao con người bị lão hóa? Nguyên nhân khiến con người trở nên già cỗi dưới lăng kính khoa học.

Lão hóa là quá trình làm cho người ta già đi. Và chống lão hóa có nghĩa là làm cho quá trình lão hóa chậm lại chứ không có nghĩa “trẻ mãi không già”.

Lý lịch “kẻ gây già”

Theo nghiên cứu cách đây không lâu của một số nhà khoa học thuộc ĐH Bradfort (Anh), một nguyên nhân gây ra tóc bạc là do có sự tích tụ hydrogen peroxit (H202) tại chân tóc. Hydrogen peroxit là một chất sát trùng dùng ngoài da nhờ tác dụng oxy hóa, đặc biệt chất này có tác dụng tẩy trắng. Hydrogen peroxit tích tụ tại chân tóc, cản trở sự hình thành sắc tố melanin của tóc làm tóc bạc. Hydrogen peroxit còn được gọi là chất tạo ra gốc tự do.

Gốc tự do chính là “kẻ gây già”. Đây là chất gây phản ứng oxy hóa trong cơ thể. Do… độc thân nên gốc tự do có hoạt tính rất mạnh, nó luôn mang tính hủy hoại, sẵn sàng thực hiện tính oxy hóa, cướp điện tử của chất mà nó tiếp xúc (để ghép đôi với điện tử độc thân của nó) và làm chất bị nó oxy hóa bị hủy hoại nặng nề.

Chính gốc tự do hủy hoại tế bào (đặc biệt ở màng tế bào hoặc cấu trúc di truyền trong nhân tế bào), phá hủy các mô gây nên quá trình lão hóa.

Thiếu kẻ xấu, sống không khỏe!

Nghịch lý này là có thật vì gốc tự do cũng có vai trò tích cực đối với cơ thể. Ta không thể sống được nếu trong cơ thể hoàn toàn thiếu vắng gốc tự do. Oxy mà ta hít thở hằng ngày là chất cần thiết nhưng chính nó cũng trở thành gốc tự do (khi đó gọi là oxy đơn bội) và kết hợp với phân tử nước để tạo ra hydrogen peroxit; còn lipid (chất béo) có thể tạo thành gốc tự do là lipoperoxit.

Quan trọng hơn hết là trong cơ thể khỏe mạnh, gốc tự do sinh ra có giới hạn, không quá thừa để gây hại. Bởi bên cạnh các gốc tự do luôn có hệ thống các chất chống oxy hóa “nội sinh” (tức có sẵn trong cơ thể) cân bằng lại, vô hiệu hóa các gốc tự do có hại.

Chỉ khi nào gốc tự do sinh ra quá nhiều (do ô nhiễm môi trường, do tia cực tím từ ánh nắng, do khói thuốc lá, do viêm nhiễm trong cơ thể, thậm chí do dùng một số dược phẩm…) và hệ thống chất oxy hóa nội sinh không đủ sức cân bằng cơ thể sẽ sinh ra rối loạn bệnh lý.

Hiện nay người ta đã chứng minh khi có sự tăng quá nhiều gốc tự do sẽ gây ra tình trạng viêm nhiễm ở các cơ quan, các bệnh lý như tim mạch, bệnh thần kinh, đục thủy tinh thể, thoái hóa hoàng điểm ở mắt, tăng nguy cơ các bệnh ung thư và nhất là sớm xuất hiện hiện tượng lão hóa.

Lực lượng đặc nhiệm chống lão hóa

Để hỗ trợ hệ thống “chất oxy hóa nội sinh” trong việc vô hiệu hóa các gốc tự do có hại, các nhà khoa học đặt vấn đề dùng các “chất chống oxy hóa ngoại sinh” (tức là đưa từ bên ngoài vào cơ thể) với mục đích phòng bệnh, nâng cao sức khỏe, chống lão hóa. Các chất chống oxy hóa ngoại sinh đã được xác định là bêta-caroten, chất khoáng selen, các hợp chất flavonoid, polyphenol…

Các chất chống oxy hóa ngoại sinh đó không xa lạ, chúng có từ các nguồn thiên nhiên là thực phẩm như rau cải, trái cây tươi. Đơn cử là bêta-caroten có nhiều trong dầu gấc, cà chua, cà rốt… Bêta-caroten khi đưa vào cơ thể ngoài tác dụng chống oxy hóa còn biến thành vitamin A, mà cơ thể cần đến hằng ngày cho hoạt động thị giác và sức đề kháng chống lại bệnh tật. Dùng bêta-caroten từ thiên nhiên rất an toàn, không sợ bị ngộ độc.

Tóm lại, việc chống ô nhiễm môi trường, dinh dưỡng đúng cách, tránh ăn uống quá thừa năng lượng, vận động hợp lý, tránh nghiện rượu, thuốc lá, phòng các bệnh viêm nhiễm, có cuộc sống lành mạnh, thư thái, lạc quan, yêu đời, ăn nhiều rau cải, trái cây tươi tức là ta đã hỗ trợ các chất chống oxy hóa ngoại sinh đã nêu ở trên. Việc này sẽ tạo nội lực chống lại “kẻ gây già” giúp duy trì, bảo vệ sức khỏe.

PGS.TS Nguyễn Hữu Đức

Nguồn: Tuổi trẻ

Bệnh mất trí được cảnh báo qua dáng đi

Theo ba nghiên cứu mới nhất đây cho thấy, bệnh mất trí nhớ có thể dự đoán được qua khả năng đi bộ và dáng đi của mỗi người.

Bệnh mất trí được cảnh báo qua dáng đi - Sức Khỏe - Chăm sóc sức khỏe - Kiến thức y học - Sức khỏe gia đình

Dáng đi thể hiện trí nhớ.

Các nghiên cứu trên được trình bày tại hội nghị thường niên của Hiệp hội Alzheimer tại Vancouver (Canada). Tất cả đều bàn về việc thay đổi tốc độ trong bước đi là dấu hiệu tiềm năng dự đoán nguy cơ suy giảm nhận thức ở người già.

Đứng đầu nhóm nghiên cứu là bác sĩ Steohanie Bridenbaugh thuộc Trung tâm Vận động Basel (Thụy Sĩ). Nghiên cứu kéo dài 4 năm, theo dõi khả năng đi bộ của gần 1.200 người lớn tuổi đang điều trị ngoại trú các bệnh về trí nhớ, rồi so sánh với những người khỏe mạnh.

Kết quả cho thấy việc giảm nhịp bước chân và sự thay đổi về dáng đi ở người già có liên quan đến quá trình suy giảm nhận thức, bao gồm tình trạng suy giảm nhận thức nhẹ (MCI) và suy giảm toàn diện (bệnh Alzheimer).

Bác sĩ Bridenbaugh giải thích trong hội nghị rằng những người bị bệnh Alzheimer đi chậm hơn so với những người bị MCI và những người bị MCI lại đi chậm hơn những người bình thường.

Trong một thử nghiệm khác, các nhà nghiên cứu thuộc Trung tâm Nghiên cứu Lão hóa Bệnh viện Mayor (Mỹ), đứng đầu là bác sĩ Rodoflo Savica, đã theo dõi bước đi của 1.300 người. Kết quả chỉ ra rằng những bệnh nhân bị giảm sút trí nhớ có bước đi chậm và sải chân ngắn.

Cuối cùng là nghiên cứu do bác sĩ Kenichi Meguro đến từ Nhật Bản tập trung vào 525 người có độ tuổi trên 75. Những người tham gia nghiên cứu đã thực hiện các bài kiểm tra về thể lực, tâm lý và thần kinh và được đánh giá mối quan hệ tiềm tàng giữa dáng đi và chứng mất trí nhớ.

Kết quả phản ánh giống như 2 nghiên cứu trước: tốc độ đi giảm mạnh khi triệu chứng bệnh mất trí phát triển.

Bác sĩ Meguro kết luận “Như vậy, dáng đi của người già không còn được xem như là hoạt động vận động đơn thuần. Chúng có mối liên quan chặt chẽ với nhận thức”.

(Sưu tầm)