Món ăn – bài thuốc phòng trị bệnh tóc rụng bạc sớm

premature-graying-hair

Theo Y học cổ truyền, khí huyết suy kém khiến tóc bạc tóc rụng sớm. Bệnh này nên phối hợp nhiều phương pháp điều trị khác nhau, có khi ăn uống bổ phù hợp còn hơn cả uống thuốc.

Sau đây xin giới thiệu một số món ăn – bài thuốc theo thể chứng trạng mỗi người.

Nếu người gầy nóng trong do âm huyết hư: phép trị: chủ yếu bổ âm, dưỡng huyết, tốt nhất nên ăn:

Chè mè đen: mè đen, gạo nếp đều 1kg, sao nhỏ lửa cho vàng thơm tán mịn, khi ăn lấy 30 – 40g vào bát đổ nước sôi đánh nhuyễn như cháo, thêm đường, sữa vừa đủ, ăn thường xuyên.

Bột hà thủ ô: hà thủ ô đỏ loại tốt 1kg; đậu đen 1kg sắc 2 lần chắt lấy  3 lít nước cốt, bỏ bã; hà thủ ô và nước đậu bỏ vào nồi đất nấu chín cạn nước sau đó đem phơi khô, tán mịn, ăn 20 – 30g/3 lần, hoặc sắc uống.

Thục địa, hoài sơn, đơn bì, sơn thù, phục linh, trạch tả, câu kỷ tử, mỗi vị 12 – 14g, tiềm ăn hoặc sắc uống.

Ngoài ra, chọn món xào như: thịt bò, hoặc thịt heo xào đậu đũa, đậu rồng, đậu ván, cà rốt, súp lơ xanh… hoặc món cá kèo, cá hồi, cá lóc nên nấy lẩu cho nhiều rau như: giá đậu, cải ngọt…

Nếu hay lo nghĩ, ăn, ngủ kém do tỳ khí hư: phép trị chủ yếu bổ khí, dưỡng huyết, tốt nhất nên ăn:

Gà tiềm thuốc: đảng sâm, câu kỷ tử, hạt sen, đương quy, hoàng kỳ, nấm mèo, táo đỏ mỗi vị 10g, gà ác 1 con tiềm ăn.

Chim cút tiền thuốc: nhân sâm, bạch truật, phục thần, hoàng kỳ, viễn chí, táo nhân, long nhãn, liên nhục, gừng nướng, đại táo, mỗi vị 10 – 12g ,cam thảo 6g tiềm chim ăn hoặc sắc uống. Bóng cá xào hành: bóng cá 100g, hành tây 1củ 100g, ớt chuông, hành tím 2 củ, thêm gia vị, xào ăn tuần vài lần.

Nếu người mập, bụng lớn chân không ấm, do thận khí hư, sinh đờm thấp: phép trị chủ yếu bổ khí hóa đàm thông huyết mạch nên ăn những món chế biến từ cá rô, cá bống, cá chạch, ếch, lươn, tôm cua cá nhỏ… thịt hoặc cật dê, chó, heo chim… Khi chế biến kết hợp ăn với các loại rau củ bổ khí hóa đàm như: kinh giới, rau mùi, rau ngò tàu, húng quế, rau đắng, hành, hoa lý, cải cay, rau mầm, giá đậu đều tốt.

Nếu người mệt mỏi suy nhược khí huyết đều hư: nên ăn bổ dưỡng, đầy đủ dưỡng chất như: tinh bột có trong gạo ngô, tươi mới, ngũ cốc còn nguyên cám… chất đạm có trong đậu, thịt, cá, trứng, sữa… Chất béo có trong dầu vừng, ôliu, mỡ cá.

Nếu người yếu bệnh lâu: nên dùng bài gà ác tiềm thuốc bắc: đảng sâm 14g, bạch truật 12g, phục thần 14g, thục địa 20g, đương quy 14g, hoài sơn 16g, câu kỷ tử 12g, nhục thung dung 10g, thỏ ty tử 12g, mạch môn 12g, ngũ vị tử 10g, táo nhân, cam thảo, sinh khương. Tiềm gà ăn hoặc sắc uống tuần vài lần.

Ngoài ra người tóc râu bạc sớm nên ăn tăng cường ăn món bổ giàu vitamin vi lượng giúp cho tóc như B5, B6, B2, Fe có nhiều trong gan động vật, các loại rau củ có màu đỏ đậm xanh đậm vàng đậm như: cà rốt, bí đỏ, gấc, rau ngót, rau đay, giá đậu, nấm các loại, đậu mè các loại…

Cần lưu ý: nếu người gầy do âm huyết hư “máu nóng” nên hạn chế vị mặn, cay, như: thịt cá khô, kho mặn để lâu, gia vị tiêu ớt, tỏi… Nếu người mập bụng lớn chân không ấm do tỳ thận khí hư: hạn chế món chua đắng quá như: cam, măng, nước dừa, nước đá… Nếu khó ngũ cữ vị kích thích như: cà phê, thuốc lá.

(Lương y MINH PHÚC)

 

Ăn gì để tư âm bổ thận (*)?

thuocdongy

 

Theo y học cổ truyền, cơ thể con người muốn khỏe mạnh thì nhất thiết phải giữ được cân bằng âm dương. Tuy nhiên, âm dương luôn luôn biến hóa và thể chất mỗi người có thể thiên về âm hoặc thiên về dương, nghĩa là có người thiên về âm hư, có người thiên về dương hư. Khi bị bệnh, mặc dù cùng mắc một căn bệnh giống nhau nhưng có người thuộc thể âm hư, có người thuộc thể dương hư.

Âm hư do nhiều nguyên nhân gây nên như bị tà khí nhiệt táo xâm nhập, ăn uống quá nhiều đồ cay nóng, rối loạn tình chí, phòng sự quá độ, lạm dụng các thuốc táo nhiệt… khiến cho tân dịch hao tổn, âm dịch hư suy. Biểu hiện của chứng âm hư thường là người gầy, da khô, dung nhan tiều tụy, miệng khô họng khát, thích uống nước lạnh, hay có cảm giác sốt nóng về chiều, lòng bàn tay và bàn chân nóng, vã mồ hôi trộm, đầu choáng mắt hoa, tiểu tiện sẻn đỏ, đại tiện táo kết, chất lưỡi đỏ khô, ít hoặc không có rêu lưỡi…

Khi thể chất hoặc không may mắc bệnh thuộc thể âm hư, dinh dưỡng học cổ truyền khuyên nên trọng dụng các đồ ăn thức uống thanh bổ, ngọt mát nhu nhuận, sinh tân dưỡng âm bổ thận, trong đó đặc biệt lưu ý các thực phẩm sau đây:

Thịt vịt: tính bình, vị ngọt mặn, có công dụng tư âm dưỡng vị, bổ thận. Sách “Tùy tức cư ẩm thực phổ” viết rằng: thịt vịt có khả năng “tư ngũ tạng chi âm, thanh hư lao chi nhiệt, dưỡng vị sinh tân bổ thận” (bổ phần âm của năm tạng, thanh hư nhiệt, bổ vị và thận, làm tăng tân dịch). Dân gian thường coi thịt vịt trắng là bổ âm tốt nhất.

Thịt lợn: tính bình, vị ngọt mặn, có công dụng tư âm và nhuận táo. Danh y đời Thanh (Trung Quốc), Vương Mạnh Anh viết: “Trư nhục bổ thận dịch, sung vị chấp, tư can âm, nhuận cơ phu, chỉ tiêu khát” (thịt lợn bổ thận, vị và can âm, làm nhuận da thịt, hết đái đường). Sách “Bản thảo bị yếu” cũng viết: “Trư nhục, thực chi nhuận tràng vị, sinh tinh dịch, trạch bì phu”.

Trứng gà: tính bình, vị ngọt, không những có công dụng ích khí dưỡng huyết mà bất luận lòng trắng hay lòng đỏ cũng đều có khả năng tư âm nhuận táo. Dân gian Trung Quốc thường nấu trứng gà với đậu đen hoặc đậu tương để bổ thận tư âm.

Sữa bò: tính bình, vị ngọt, rất giàu chất dinh dưỡng, có công dụng tư âm dưỡng dịch, sinh tân nhuận táo. Các y gia đời xưa thường gọi công dụng tư âm của sữa bò với nhiều cách khác nhau như “nhuận cơ chỉ khát”, “nhuận bì phu”, “nhuận đại tràng”, “tư nhuận ngũ tạng”, “tư nhuận bổ dịch”.

Ba ba: tính bình, vị ngọt, có công dụng tư âm bổ thận, lương huyết, là loại thực phẩm thanh bổ tuyệt vời cho người bị âm hư. Sách “Tùy tức cư ẩm thực phổ” cho rằng ba ba có khả năng “tư can thận chi âm, thanh hư lao chi nhiệt”, sách “Bản thảo bị yếu” cũng viết: “Giáp ngư lương huyết tư âm”.

Rùa: tính bình, vị ngọt mặn, có công dụng tư âm bổ thận, dưỡng huyết. Sách “Y lâm bị yếu” cho rằng rùa có khả năng “trị cốt chứng lao nhiệt, âm hư huyết nhiệt chi chứng” (chữa chứng đau nhức trong xương do hư nhiệt và các chứng âm hư huyết nhiệt).

Hến: tính bình, vị ngọt mặn, có công dụng tư âm bổ thận. Sách “Bản thảo cầu nguyên” cho rằng hến có khả năng “tư chân âm”, sách “Bản thảo tùng tân” viết hến là một trong những thực phẩm có tác dụng “liệu tiêu khát” (chữa đái đường).

Hải sâm: có công dụng tư âm, bổ huyết, ích tinh, nhuận táo. Sách “Dược tính khảo” cho rằng hải sâm có khả năng “giáng hỏa tư thận”. Sách “Thực vật nghi kỵ” cũng viết: “Hải sâm bổ thận tinh, ích tinh tủy”. Danh y Vương Mạnh Anh (đời Thanh, Trung Quốc) cũng nói: “Hải sâm tư âm, bổ huyết, nhuận táo”. Có thể nói, hải sâm là một loại thực phẩm điển hình có công dụng tư âm bổ thận.

Sò: tính lạnh, vị mặn, có công dụng tư âm, hóa đàm, nhuyễn kiên. Y thư cổ đều cho rằng sò là thứ không chỉ tư âm bổ thận mà còn nhuận táo, nhuận ngũ tạng, chỉ tiêu khát.

Trai: chứa rất nhiều đạm và vitamin, có công dụng tư âm bổ thận, thanh nhiệt, làm sáng mắt. Danh y Vương Mạnh Anh cho rằng trai có khả năng “thanh nhiệt tư âm, dưỡng can lương huyết. Đây là một trong những thực phẩm lý tưởng cho người mắc chứng âm hư.

Tang thầm: quả dâu chín, tính lạnh, vị ngọt, có công dụng tư âm bổ huyết, ích thận. Sách “Bản thảo cầu tân” viết: “Tang thầm ích âm khí, ích âm huyết”, sách “Bản thảo kinh sơ cũng viết: “Tang thầm vi lương huyết bổ huyết ích âm chi dược” và “tiêu khát do vu nội nhiệt, tân dịch bất túc, sinh dịch cố chỉ khát, ngũ tạng giai thuộc âm, ích âm cố lợi ngũ tạng”. Quả dâu chín rất có lợi cho người mắc chứng thận âm hư gây tai ù, tai điếc, tiêu khát (đái đường).

Kỷ tử: tính bình vị ngọt, có công dụng tư âm bổ thận ích thọ, là thứ quả cực kỳ hữu ích cho những người mắc chứng thận âm hư gây đau đầu, hoa mắt, chóng mặt, ù tai, lưng gối đau mỏi…, đặc biệt tốt để trị liệu lao phổi, đái đường, hư lao…

Tổ yến: tính bình, vị ngọt có công dụng bổ thận dưỡng âm, đặc biệt là các bệnh đường hô hấp như lao phổi, giãn phế quản, viêm phế quản mạn tính… thuộc thể phế thận âm hư.

Ngân nhĩ: còn gọi là mộc nhĩ trắng, tính bình, vị đạm ngọt, có công dụng tư âm dưỡng vị, sinh tân nhuận táo. Ngân nhĩ rất giàu chất dinh dưỡng, trong đó có nhiều vitamin và 17 loại acid amin cần thiết cho cơ thể, rất có lợi cho những người thể chất âm hư hoặc mắc các chứng bệnh thuộc thể âm hư.

Tây dương sâm: còn gọi là sâm Mỹ, tính mát, vị ngọt hơi đắng, có công dụng ích khí dưỡng âm, bổ thận. Các sách thuốc cổ như “Bản thảo tùng tân”, “Dược tính khảo”… đều cho rằng tây dương sâm có khả năng “tư âm giáng hỏa”. Với chứng âm hư không nên dùng nhân sâm, nhưng với tây dương sâm thì lại là một vị thuốc rất thích hợp.

Ngoài ra, để tư âm bổ thận còn nên trọng dụng a giao, mẫu lệ nhục, cá chạch, sữa ngựa, sữa dê, củ mài, mật ong, sữa ong chúa, vừng đen, nấm đông cô, nấm kim châm, cà chua, giá đỗ các loại… và nên kiêng thịt chó, thịt dê, thịt chim sẻ, hải mã, hải long, thịt hoẵng, lạc rang, vải, long nhãn, ô mai, tỏi, rau hẹ, hạt tiêu, ớt, gừng, nhục quế, tiểu hồi, đại hồi, rượu trắng, hồng sâm, nhục thung dung, tỏa dương…

ThS. HOÀNG KHÁNH TOÀN

(Theo Sức khỏe đời sống)

(*) Ghi chú: Thận ở đây theo quan niệm của Y học cổ truyền là 1 trong ngũ tạng (Tâm, Can, Tỳ, Phế, Thận), là những tổ chức, cơ quan của cơ thể có nhiệm vụ chuyển hóa và tàng trữ tinh, khí, thần, huyết và tân dịch. Thận trong Đông y không phải là 2 quả thận theo định nghĩa Tây y như nhiều người lầm tưởng.

Bài thuốc dành cho người mỡ máu cao

Dưới đây là hướng dẫn của lương y Như Tá và lương y Quốc Trung về cách dùng những bài thuốc dành cho người mỡ máu cao:
Cách dùng chung:

1. Dùng 300g cuống bí ngô, 30g vị thuốc sơn tra – cả hai đem nấu lấy nước uống.

2. Dùng 30g lá dưa hấu, 30g vỏ đậu phộng đem nấu lấy nước uống.

3. Dùng hạt bắp, và hạt bí ngô (mỗi thứ 30g), đem nấu dùng luôn cả nước và cái.

4. Lấy 1 củ cà rốt, 30g đậu phộng. Nấu chung cả hai thứ để ăn trong ngày.

5. Lấy 100g bí đao, 30g cành lê nấu lấy nước uống.

Bài thuốc có bí đao dành cho người mỡ máu cao

6. Lấy vị thuốc sơn tra, và hà diệp (cùng 15g) đem nấu uống thay trà – bài thuốc này dùng trị mỡ máu và cao huyết áp rất hay.

7. Dùng 60g lá bắp, 30g hạch đào nhân nấu nước uống.

Các bài thuốc dùng theo thể bệnh:

1. Thể thấp nhiệt uất kết – biểu hiện cơ thể nóng, thường khát nước, tiểu ít, người thì phù, bụng thì đầy… Với thể này cần thanh nhiệt, lợi thấp, dùng bài thuốc gồm các vị: bạch truật, bạch linh, trư linh, trạch tả, nhẫn đông đằng, ý dĩ (mỗi loại 10 – 15g), hà diệp, cúc hoa, râu bắp (cùng 10 – 12g), hoạt thạch 20 – 30g, cam thảo 4g, thảo quyết minh tươi 20g; đem tất cả nấu lấy nước uống.

2. Với thể khí trệ huyết ứ – có biểu hiện hay đau nhói trước ngực, lưỡi tím hoặc có điểm ứ huyết, có khi kèm theo thiếu máu cơ tim… Chữa trị trong trường hợp này là dùng bài thuốc gồm các vị như: sinh địa, đương quy, bạch thược (cùng 12 – 16g), đào nhân, ngưu tất, sài hồ (đều 10 – 12g), đơn sâm 12g, hồng hoa, sung quý tử, chỉ thực, hương phụ, xuyên khung (đều 8 – 10g).

3. Với thể tỳ hư đờm thấp – người sẽ có những biểu hiện chân tay mệt mỏi, chán ăn, bụng đầy, ho có nhiều đờm, đi tiêu phân lỏng, rêu lưỡi trắng dày… Phép trị trong trường hợp này là nhằm “kiện tỳ, hòa vị, hóa đàm, trừ thấp”, bài thuốc dùng cho thể này gồm các vị: đảng sâm, bạch truật, bạch linh, trúc nhự (cùng 10 – 12g), trần bì, bán hạ, chỉ thực, mộc hương, sa nhân, uất kim (6 – 10g), bạch phàn 2g, chích thảo 3g. Đem nấu lấy nước uống.

4. Với thể tỳ hư lưỡng thực – thể này thường gặp ở người cao tuổi, biểu hiện gồm: cơ thể mệt mỏi, bụng đầy, ăn uống kém, lưng gối mỏi, tai thì ù, mắt thì hoa, lưỡi thì đỏ… Phép trị trong trường hợp này là “bổ thận, kiện tỳ”, và bài thuốc dùng gồm có các vị: hà thủ ô đỏ (10 – 12g), thỏ ty tử (10 – 12g), tiên linh tỳ, sinh địa (10 – 12g), trạch tả (10 – 15g), bạch linh 12g, bạch truật 10g, đem sắc uống.

Cách sắc (nấu) các bài thuốc trên như sau: nước đầu cho các vị thuốc vào cùng 4 chén nước, nấu còn lại 1 chén, rồi cho nước thuốc ra; nước thứ hai tiếp tục cho 3 chén nước vào và nấu còn lại nửa chén. Hòa hai nước lại, chia làm 3 lần dùng trong ngày.

(Nguồn tin: Thanh niên online)

Bí đao giúp giảm cân

Giảm cân cho vóc dáng thon gọn để… mặc gì cũng đẹp là ước mơ của những ai “tròn trịa”. Gần đây, không ít chị em rủ nhau uống nước ép bí đao để “thanh toán” những ký mỡ thừa.
Để có nước bí đao, các chị dùng nguyên trái ép lấy nước để uống vào mỗi buổi sáng. Nhiều người cho biết: “Nước ép bí đao ngọt và ngon nên khi uống vào thấy rất dễ chịu vừa giảm cân vừa đẹp da”.
Theo Đông y, bí đao có tính hàn nên khi dùng sống có thể gây đi tiểu tháo, lạnh bụng, đau bụng và dễ bị nhiễm trùng. Khi nấu canh bí đao thường thêm hành ngò để hạ bớt “hàn khí” của bí. Do dùng để trị bệnh nên mọi liều lượng đều phải có chỉ định của lương y. Bí đao còn dùng để bôi ngoài da giúp da mát và mịn. Khi trời nắng nóng, canh bí đao nấu sườn, hoặc tôm bóc nõn giã nhuyễn viên tròn, có công dụng thanh nhiệt, giải độc cho cơ thể.

Trong bí đao còn có các sinh tố nhóm B, sinh tố C, bêta caroten, chất xơ và nhiều khoáng chất kali, magiê, vừa tốt cho tim mạch, bảo vệ mạch máu, vừa làm đẹp da. Dùng canh bí đao thay thế cơm, thức ăn, cũng là một cách giảm cân hiệu quả. Món canh này còn giúp giữ chỉ số đường huyết – phù hợp với người mắc bệnh tiểu đường. Bên cạnh món canh bí đao còn có thể chế biến các món khác như dùng bí đao nhồi thịt hầm, bí đao luộc…

Theo bác sĩ Nguyễn Thị Kim Hưng – Trung tâm Làm giàu thế giới nội tâm TP.HCM: “Khi chúng ta nuôi cơ thể bằng thực phẩm thì hãy lắng nghe phản ứng của cơ thể. Trong trường hợp dùng các loại nước ép mà bị tác dụng như sình bụng, tiêu chảy thì hãy ngưng một thời gian. Sau đó dùng lại, nếu vẫn bị như cũ, không nên sử dụng nữa. Còn nếu dùng một thời gian mà thấy sức khỏe tăng, trọng lượng giảm tức phù hợp với cơ thể”.

(Sưu tầm)

Gạo lức rang trị thoái hóa khớp

Tôi bị thoái hóa khớp gối chân trái và phải. Tôi không chạy xe đạp được, không đi lại được. Tôi tưởng đời đã khép lại với tôi. Nhưng sau khi uống hết 2 kg bột gạo lức rang, bịnh thoái hóa 2 khớp gối của tôi gần như hết 8/10.

Trước khi dùng nước gạo lức, tôi đã phải dùng nịt vải dầy, to bản băng vào hai đầu gối. Tôi đi từng bước nặng nhọc và có cảm giác đầu gối muốn sụm xuống (tôi bị sụm một lần khi bước chân lên xe buýt). Tôi rất buồn khi thấy mình sắp trở thành phế nhân khi tuổi chưa già.

Thời may, có người tặng cho tôi 2 kg bột gạo lức rang và nói tôi dùng thử. Tôi không tin, nhưng sẵn có bột thì dùng thử, đâu có hại gì? Tôi nghĩ như vậy và bắt đầu uống. Cứ 1 ly nước sôi khoảng 200cc, tôi cho vào 2 muỗng cà phê bột gạo lức rang. Mỗi ngày tôi uống 2 ly, tức là 4 muỗng cà phê bột gạo lức rang. Sau đó, tôi lên mạng lục tìm thông tin xem gạo lức rang tốt cỡ nào? Càng đọc tôi càng thấy phấn chấn. Tôi được biết gạo lức rang có rất nhiều tác dụng tốt để chữa được nhiều bệnh. Sau khi uống bột gạo lức được 10 ngày, thì tôi hiểu chữ nhẹ người là sao. Trước đây người tôi rất nặng nề (tôi thừa tới 10 kg), bây giờ thì tôi có cảm giác mình linh hoạt, bước chân của tôi nhanh hẳn lên. Và sau khi dùng hết 2 kg bột, tôi không còn phải băng đầu gối nữa, tôi đi nhanh như chạy cũng được. Người chỉ cho tôi uống bột đã khỏi bệnh hoàn toàn, đến nay đã 3 năm rồi, bệnh vẫn không tái phát.

 Có 3 cách dùng gạo lức rang

1. Bột gạo lức rang: Rang gạo cho đến khi một số hạt gạo nở bung lên như bắp bung, là được (không cần nở bung hết, chỉ một số hạt thôi).
2. Trà gạo lức: Mua gạo lức huyết rồng (khoảng 25.000 đồng/kg), vo sạch, để ráo nước. Khi vừa ráo nước thì bạn rang liền (đừng để hạt gạo khô quá, không thơm). Rang nhỏ lửa, khuấy đều tay. Khi hạt gạo hơi sậm màu và có mùi thơm (như bạn rang đậu phộng vậy) là được. Bạn đổ gạo vừa rang vào một cái rổ, có lót sẵn một miếng vải. Bạn phủ vải kín hạt gạo. Khi gạo nguội rồi bạn đổ gạo rang vào cái hũ có nắp kín để bảo quản. Mỗi ngày, bạn múc vài muỗng gạo lức rang ra pha như pha trà. Trà có màu cánh dán rất đẹp, rất thơm. Uống đậm hay nhạt, nhiều hay ít tùy bạn thích. Càng uống nhiều thì bệnh càng mau có kết quả. Khi uống xong nước thứ nhất, bạn lại chế nước sôi vào lần hai, rồi lần ba. Hoặc bạn pha 3 lần, rồi trộn lẫn vào nhau mà uống.
3. Cốm gạo lức: Gạo lức vo thật sạch, nấu thành cơm. Để nguội, bóp rời ra, phơi khô, sau đó rang lên. Bây giờ hạt gạo trở thành cốm, giòn tan, ăn rất ngon. Ở chợ Bà Chiểu (quận Bình Thạnh, TP.HCM) có cửa hàng bán đủ thứ về gạo lức. Tôi thấy họ bán cốm gạo lức, có nhãn hiệu như hình kèm theo bài này đây.

Qua kinh nghiệm bản thân, tôi thấy việc dùng gạo lức rang để trị thoái hóa khớp là một phương pháp rất hay, nhưng không hiểu vì sao ít người biết đến, và không được phổ biến rộng rãi?

Nếu bạn nghi ngờ, xin hãy dùng thử. Như tôi đã từng nghi ngờ và đã dùng thử. Khi bạn đã dùng bột hay uống trà thì cần phải liên tục mỗi ngày. Chỉ uống hết 1kg bột thôi, bạn sẽ cảm nhận được sự thay đổi tốt hơn ngay.

(NGỌC ANH)

KHÁM PHÁ MỚI VỀ GẠO LỨC

Gạo lức là một loại thực phẩm nhiều dinh dưỡng khi so sánh với gạo trắng. Tuy nhiên, nó còn gia tăng nhiều dinh dưỡng hơn nữa khi được đem ngâm trong nước ấm, lâu khoảng 22 giờ. 

Đây là một khám phá mới nhất của khoa học.

Một nhóm các nhà khoa học Nhật Bản đã tìm thấy gạo lức ngâm lâu 22 tiếng đồng hồ chứa rất nhiều chất bổ dưỡng vì gạo lức ở trạng thái nẩy mầm. “Các enzyme ngủ trong hạt gạo ở trạng thái này được kích thích hoạt động và cung cấp tối đa các chất dinh dưỡng.”
Dr. Hiroshi Kayahara, giáo sư khoa sinh học và kỹ thuật sinh học tại viện đại học Shinshu University ở Nagano, đã nói như vậy trong bài tường trình kết quả nghiên cứu của nhóm ông tại hội nghị hóa học quốc tế
“The 2000 International Chemical Congress of Pacific Basin Societies” ở Hawaii vào cuối năm 2000 vừa qua.

“Mầm gạo lức chứa nhiều chất xơ, vitamins và chất khoáng hơn là gạo lức chưa ngâm nước” Kayahara viết trong tờ trình. Gạo lức đã ngâm nước chứa gấp ba lần chất lysine, một loại amino acid cần thiết cho sự tăng trưởng và bảo trì các mô tế bào cơ thể con người, và chứa mười lần nhiều hơn chất gamma-aminobutyric acid, một chất acid tốt bảo vệ bộ phận thận (kidneys).
Các khoa học gia cũng tìm thấy trong mầm gạo lức có chứa một loại enzyme, có tác dụng ngăn chặn prolylendopeptidase và điều hòa các hoạt động ở trung ương não bộ.

Gạo lức nẩy mầm không những chỉ đem lại nhiều chất dinh dưỡng mà còn nấu rất dễ dàng và cung ứng cho chúng ta một khẩu vị hơi ngọt vì các enzymes đã tác động vào các chất đường và chất đạm trong hạt gạo, tiến sĩ Kayahara nói thêm. Gạo trắng không nẩy mầm khi ngâm như vậy.

Bộ Nông Nghiệp Hoa Kỳ USDA thường nhấn mạnh đến nhóm hạt nguyên chất (whole grains), như gạo lức, là thành phần chủ yếu trong chế độ dinh dưỡng. Gạo lức cung cấp nhiều complex carbohydrate. Chất xơ (fiber), chất dầu, vitamins và chất khoáng cũng được tìm thấy nơi
phần bọc ngoài của hạt gạo lức.

Một cup gạo lức nấu chín cung cấp khoảng 230 calories, 3,5 gram chất xơ, 5 gram chất đạm, 50 gram carbohydrate và các chất sinh tố Vitamin B 6, Thiamin B 1, Riboflavin B 2, Niacin B 3, Folacin,
Vìtamin E, cùng các chất khoáng khác.

Theo nhiều nghiên cứu khoa học cho biết chất xơ trong gạo lức giúp phòng ngừa các bệnh liên quan đến đường tiêu hóa và bệnh tim mạch.
Viện Ung Thư Quốc Gia Hoa Kỳ khuyến cáo nên dùng 25 grams chất xơ mỗi ngày. Với một cup cơm gạo lức cung cấp 3.5 g, trong khi đó một cup cơm gạo trắng chỉ cho có 1 g.

Một thành phần quan trọng khác là chất dầu trong vỏ bọc ngoài của gạo lức có tác dụng giảm cholesterol trong máu, một yếu tố quan trọng gây nên bệnh tim mạch.
Các nhà khoa học đã tìm thấy ở trong chất cám bọc ngoài hạt gạo lức có chất dầu tên là tocotrienol factor (TRF) có tác dụng khử trừ những chất hóa học gây nên hiện tượng đông máu và đồng thời giảm cholesterol.
Bác sĩ Asaf Qureshi thuộc viện đại học Wisconsin, Hoa Kỳ đã thử nghiệm TRF trên một số người và cho kết quả giảm cholesterol từ 12 đến 16%. Ngoài ra, trong chất cám bọc ngoài gạo lức còn có thêm một chất khác có khả năng chống lại chất xúc tác enzyme HMG-CoA, một chất có khuynh hướng giúp gia tăng lượng cholesterol xấu LDL.

Được biết, hội nghị Hóa Học Quốc Tế International Chemical Congress được bảo trợ bởi: the American Chemical Society, the Chemical Society of Japan, the Canadian Society of Chemistry, the Royal Australian Chemical Institute, and the New Zealand Institute of Chemistry.

Tham Chiếu:
– Reuters Health Information Date Published: Dec 18 2000 16:11:14
– Date Reviewed: Dec 18 2000
– ABC Science Online, Australia 19 December 2000

(Sưu tầm từ nhiều nguồn)

Thịt ba ba: Bổ dưỡng và độc hại

Do ba ba sống dưới nước, gần bùn đất hay ăn xác động vật và các thức ăn thối rữa nên trong ruột chúng thường xuyên có nhiều vi khuẩn gây bệnh sản sinh ra độc tố. Theo y học dân tộc, thịt ba ba vị ngọt, tính bình, có tác dụng dưỡng âm lương huyết, bổ hư, tán tích, tiêu u cục cứng kết, thanh nhiệt hư lao, bồi bổ sức khoẻ, tăng cường khả năng miễn dịch và phòng chống bệnh tật, được dùng làm thuốc chữa các chứng bệnh nóng bên trong, ra mồ hôi trộm, lỵ mạn tính, sốt rét dai dẳng, rong kinh, rong huyết, lao hạch…

Do có tác dụng trên, thịt ba ba là thức ăn rất thích hợp cho những người bị bệnh lao, viêm gan mạn tính, xơ gan, tiểu đường, viêm thận, nam giới thận yếu thuộc thể can thận âm hư (người gầy yếu, hay hoa mắt, chóng mặt, có cảm giác sốt về chiều, lòng bàn tay, bàn chân nóng, gò má đỏ, vã mồ hôi trộm, di mộng tinh, miệng khát, họng khô, lưỡi đỏ…).

Cháo ba ba, món ăn bổ dưỡng

Một trong những món ăn ngon đồng thời là bài thuốc bổ dưỡng quý, dễ làm, là cháo ba ba. Cách nấu cháo đơn giản như sau:

Dùng một con ba ba khoảng 150 – 200g, nấu với 40g đậu đỏ, 100 hạt sen, 4 quả táo tầu, thêm gia vị vừa đủ tuỳ theo khẩu vị từng người, nấu lâu trên bếp nhỏ lửa cho đến khi các vị nhừ thành cháo, múc ra ăn. Cháo này có tác dụng tốt đối với những người sức khoẻ suy nhược, hồi hộp mất ngủ, di mộng tinh, làm giảm đau trong các bệnh đau nhức xương, tê thấp.

Thịt ba ba ăn ngon và giàu chất dinh dưỡng như vậy, nhưng phải là thịt những con còn sống khoẻ mạnh, nếu ăn phải thịt những con ba ba bị chết hoặc đã ươn sẽ có hại cho sức khoẻ, thậm chí còn có nguy cơ bị ngộ độc rất nguy hiểm.

Trong 100g thịt ba ba có khoảng 80g nước, 16,5g protit, 1g lipit, 1,6g carbohydrat, 107mg canxi, 1,4mg chất sắt, 3,7mg axit nicotinic, khá giàu các vitamin B1, B2, vitamin A và iốt.

Nguyên nhân do ba ba sống dưới nước, gần bùn đất hay ăn xác động vật và các thức ăn thối rữa nên trong ruột chúng thường xuyên có nhiều vi khuẩn gây bệnh sản sinh ra độc tố. Khi con vật còn sống, vi khuẩn và độc tố của chúng sẽ bị đào thải ra ngoài theo đường tiêu hoá, nhưng khi con vật chết, việc đào thải này không còn nữa, vi khuẩn và độc tố của chúng vẫn tồn tại trong ruột ba ba, sinh sôi nảy nở rất mạnh và xâm nhập vào thịt. Thời gian chết của ba ba càng lâu, vi khuẩn và độc tố của chúng xâm nhập thịt càng nhiều, nếu chúng ta ăn phải loại thịt này sẽ bị ngộ độc.Tránh ngộ độc

Theo các nhà nghiên cứu, trong thịt ba ba chết có histamin là một chất độc được sản sinh ra trong quá trình con vật chết trước khi chúng bị làm thịt, do sự phân huỷ chất đạm bởi vi khuẩn. Chất độc này chịu được nhiệt độ cao nên dù món ăn đã được đun nấu chín, ăn phải vẫn nguy hiểm.

Triệu chứng ngộ độc ba ba xảy ra rất nhanh. Chỉ vài giờ sau khi ăn, người bệnh bị đau bụng dữ dội, tiêu chảy nhiều lần trong ngày, mặt đỏ bừng, nhức đầu, nổi mẩn khắp người, chân tay co quắp, đổ mồ hôi, rất dễ tử vong. Cũng vì vậy, sau khi ăn ba ba nếu thấy có các dấu hiệu trên, ta phải mang ngay người bệnh đến bệnh viện gần nhất để giải độc và cấp cứu kịp thời, nếu để chậm sẽ nguy hiểm đến tính mạng.

Muốn phòng tránh những vụ ngộ độc đáng tiếc trên, khi mua ba ba chúng ta phải chọn những con còn sống khoẻ mạnh, mang về cắt tiết chế biến ngay. Dù có rẻ mấy cũng không mua những con ốm yếu sắp chết.

Trường hợp chưa làm thịt ngay còn để lại một vài hôm, phải theo dõi cẩn thận, nếu thấy ba ba chết hoặc ngắc ngoải sắp chết phải kiên quyết bỏ đi. Không nên tiếc của, cho rằng con vật mới chết vẫn làm thịt ăn được, có thể gây tai họa cho gia đình.

Theo BS Kim Minh

(Nguồn Tintuconline)

Cách dùng ba ba làm thuốc

 Từ lâu, ba ba đã được xếp vào hàng thực phẩm bổ dưỡng và các bộ phận của ba ba còn được sử dụng như những vị thuốc trị nhiều chứng bệnh. Do nhu cầu tiêu thụ lớn, ngày nay ba ba được nuôi theo lối công nghiệp và trở nên rất sẵn có trên thị trường. Bài viết này giới thiệu cho bạn đọc cách sử dụng ba ba trong đời sống hàng ngày với mục đích bồi bổ sức khỏe và chữa bệnh.

Thịt ba ba: vị ngọt, tính bình; vào can, thận. Có tác dụng tư âm dưỡng huyết, lương huyết thanh nhiệt, bổ thận cường kiện gân cốt. Dùng cho các trường hợp sốt nóng đau nhức xương khớp do phong thấp, sốt nóng do bệnh lý hệ thống miễn nhiễm, hội chứng lỵ mạn tính, huyết khối, huyết trắng, các dạng u bướu sưng nề (trưng hà tích tụ). Người bị tiêu chảy, lỏng lỵ không dùng. Mai ba ba tên thuốc là miết giáp; vị mặn, tính bình; vào kinh can và tỳ. Có tác dụng tư âm, lui cơn sốt âm ỉ, làm mềm chỗ rắn, làm tan hòn cục. Người dương hư không nhiệt, dạ dày yếu hay nôn, tỳ hư ỉa chảy không được dùng.

Một số cách dùng mai ba ba (miết giáp) chữa bệnh:

Tư âm, lui cơn sốt âm ỉ: Trị chứng âm hư phát sốt, nóng âm ỉ trong xương.

– Thanh cao 20g, miết giáp 63g, sơn dược 20g, hồng táo 125g, dương phèo 63g. Sắc uống, nhiều ngày. Trị lao phổi hư nhiệt, ra mồ hôi trộm.

– Bột Thanh cao: Thanh cao 12g, miết giáp 12g, sài hồ 8g, hoàng liên 4g, hoàng kỳ 12g, tang bạch bì 12g, bạch truật 12g, chi tử phấn 12g, tri mẫu 12g, địa cốt bì 12g, cam thảo 8g, long đởm thảo 8g. Sắc uống. Trị đau xương, nóng sốt nhẹ, ngày nhẹ đêm nặng.

Nhuyễn kiên, tán kết (làm mềm chỗ rắn, tan hòn cục).

Trị sốt rét, gan lách sưng to. Dùng bài: Miết giáp ẩm: miết giáp 12g, bạch truật 12g, hoàng kỳ 12g, thảo quả 12g, binh lang 12g, xuyên khung 12g, quất hồng 12g, bạch thược 12g, sinh khương 4 lát, đại táo 3 quả, ô mai 6g. Sắc uống.

Chữa xơ gan: Miết giáp 30g, vảy tê tê 5g. Sắc với 400ml nước, lấy 100ml chia uống 12 lần trong ngày.

Các món ăn – bài thuốc dùng ba ba:

Ba ba hầm xương sông, lá lốt: Ba ba 1 – 2 con, lá lốt 60g, xương sông 60g. Ba ba làm sạch bỏ mai, đầu và ruột, chặt nhỏ; lá lốt, xương sông thái nhỏ; thêm gia vị, dầu rán; thêm nước sôi hầm chín hoặc nấu cách thuỷ; có thể thêm đậu phụ, chuối xanh, rau bắp, dứa (thơm). Dùng ăn bổ dưỡng, dùng cho bệnh nhân sốt rét lách to, phong thấp.

Ba ba hầm thục địa kỷ tử: Ba ba 1 con, kỷ tử 30g, thục địa 20g, có thể thêm nữ trinh tử 15g. Ba ba đã làm sạch, chặt nhỏ, kỷ tử, thục địa, nữ trinh tử cho vào nồi, thêm nước sạch vừa đủ, nấu chín nhừ, bỏ bã dược liệu, thêm gia vị. Dùng cho trường hợp lao phổi, viêm khí phế quản mạn tính, suy nhược cơ thể, biếng ăn, thiếu máu, sơ gan, viêm gan mạn, hồi hộp khó thở, tim đập mạnh.

Xúp canh ba ba, sơn dược, long nhãn: Ba ba 1 con, sơn dược 30g, long nhãn 15g. Cho ba ba đã làm sạch chặt nhỏ, sơn dược, long nhãn vào nồi, thêm nước sôi vừa đủ, hầm nhừ, thêm gia vị. Dùng cho các trường hợp lao phổi, viêm khí phế quản mạn tính; suy nhược cơ thể, biếng ăn, thiếu máu, sơ gan, viêm gan mạn, hồi hộp khó thở, tim đập mạnh.

Ba ba hầm: Ba ba 1 con (khoảng 500g), thịt dê 300g, thảo quả 5g, gừng tươi, bột tiêu, muối ăn và các gia vị thích hợp khác. Ba ba làm sạch, bỏ đầu móng, mai và nội tạng, chặt nhỏ; thịt dê thái lát to tương ứng như  thịt ba ba. Cho ba ba, thịt dê vào trong nồi, thêm thảo quả, gừng tươi, nước sạch; đun to lửa cho sôi, đun nhỏ lửa cho chín nhừ, thêm muối ăn, hồ tiêu và các gia vị khác, chia ăn nhiều bữa. Dùng cho các thể thận âm hư, tỳ thận dương hư có các triệu chứng đau đầu ù tai, chóng mặt, sốt nóng dao động, vã mồ hôi trộm, đau quặn lạnh bụng, ăn kém, chậm tiêu.

Thuốc dưỡng âm, bổ huyết, giảm mỡ máu và hạ huyết áp: Thịt ba ba 100g, râu ngô 10g, sơn tra 8g, táo đỏ 3 quả, gừng 3 lát, muối vừa đủ, nấu với nước, bỏ râu ngô, ăn cả nước và cái. Cách 2 ngày làm 1 lần.

Thịt ba ba nấu với ngó sen để chữa băng huyết, rong kinh. Nấu với chân giò lợn và đại táo làm thuốc tăng tiết sữa.

Máu ba ba pha với rượu uống nóng giúp phục hồi sức khoẻ cho người mới ốm dậy, chữa hoa mắt, choáng váng, bốc hoả, khó thở, kém ăn. Pha với mật ong trị đái đường, hen suyễn, bệnh tim mạch và đường ruột.

Mỡ ba ba dùng bôi ngoài chữa bỏng, lở loét, vết thương, trĩ.

Trứng ba ba (lòng đỏ) gói lá chuối nướng chữa kiết lỵ mạn tính; dùng lòng trắng để bôi trị trĩ…

TS. Nguyễn Đức Quang