Người lên rừng, xuống biển tìm cây thuốc

Đó là lương y (LY) Nguyễn Đức Nghĩa, một cộng tác viên của báo SK&ĐS. Năm nào anh cũng lên chiếc xe vespa, rong ruổi nhiều ngày trời đi tìm những cây thuốc quý đang có nguy cơ bị tuyệt diệt.

Đầu năm xuất hành

Cứ đầu năm, LY. Nguyễn Đức Nghĩa lại xuất hành. Thường thì anh đi cùng 1 hay 2 học trò, nhưng riêng năm nay, mùng 2 Tết, anh đi cùng với đứa con trai đầu lòng đang học khoa Y học cổ truyền, Đại học Y-Dược TP.HCM. 2 cha con chuẩn bị hành trang là võng, cuốc, xẻng (loại xếp gọn được), dao găm, hộp đựng cụng cụ y tế cùng thuốc men cấp cứu và cả mấy lít rượu thuốc nữa… Anh Nghĩa cùng đứa con thẳng tiến ra Bình Thuận, Ninh Thuận, rồi vòng lên Lâm Đồng để tìm cây thuốc. Đến các tỉnh, anh vào nhà người quen để ăn ở (hoặc cũng có khi ở trọ), gửi xe, rồi lên rừng núi. 2 cha con dậy lúc 4 giờ sáng để khi lên được đỉnh núi trời sáng rõ là vừa, còn khi về khoảng 4-5 giờ chiều, nếu muộn quá dễ bị lạc. Đi sớm lúc trời còn mờ hơi sương, gió lạnh, khi lên đến núi, 2 cha con ăn mấy khoanh bánh tét, uống vài ly rượu thuốc để lấy sức rồi đi lùng cây thuốc. Dù kinh nghiệm đi rừng nhiều, nhưng thỉnh thoảng anh Nghĩa vẫn nhờ dân địa phương dẫn đường.

Lương y Nguyễn Đức Nghĩa với củ bình vôi ở rừng Datẻ, Lâm Đồng.

Lương y Nguyễn Đức Nghĩa với củ bình vôi ở rừng Datẻ, Lâm Đồng.

 

Đã gần 10 năm nay, anh Nghĩa có mặt khắp nơi, khi thì lên Lâm Đồng, Đắk Lắk lúc xuống An Giang, Đồng Tháp, lúc ra Bình Thuận, Khánh Hòa, Thừa Thiên Huế, Quảng Bình, Vĩnh Phúc… để tìm cây thuốc. Anh Nghĩa hóm hỉnh: “Tôi đã dùng đến 13 đời xe vespa, từ loại xe vespa estandar, đến loại super, rồi supering… và nay là piaggio”. Cứ mỗi chuyến đi độ 5-10 ngày như vậy, LY. Nghĩa lại tìm và đưa về được mấy cây thuốc quý đang có nguy cơ tuyệt chủng. Trên rừng núi anh tìm được cây xá xị, thảo nam sơn, lưỡng diện châm, sống rắn, củ gió đất… Ở vùng trung du, anh thấy hà thủ ô trắng, nắp ấm, ké hoa đào… Xuống biển, anh bắt được “vàng”: tật lê, sài hồ biển, màn kinh tử, thiên môn, củ gấu biển, ngoặt ngoẹo… Đó cũng là những cây có nguy cơ phải đưa vào sách đỏ của Việt Nam.

Thực ra hồi trẻ, cách nay vài chục năm, LY. Nghĩa đã đi tìm cây thuốc. Có lần anh tìm thuốc ở xã Cam An (Cam Ranh, Khánh Hòa), anh không hiểu tại sao khi mở mắt ra thấy mình nằm ở chợ chứ không phải trên núi. Té ra, anh bị trượt chân té ngã, ngất đi, may có mấy thanh niên đi rừng thấy khiêng xuống. Nhưng việc khiến anh đi tìm cây thuốc đều đặn hàng năm có nguyên nhân của nó. Năm 2000, bác Nguyễn Gia Trường nhà ở Q.3, TP.HCM gửi thư cho anh Nghĩa kể về chuyện cây bướm bạc đã giúp mẹ anh lành bệnh ung thư tử cung như thế nào… Trong thư có nói cây bướm bạc được lấy ở: “K10, gần cầu Hương Canh, cạnh bờ sông nhỏ, dây mọc thành bụi xoắn vào nhau…”. Anh Nghĩa thấy như trong lòng mình có cái gì đó thôi thúc và anh lên xe vespa ra Bắc, tìm đến Hương Canh, Vĩnh Phúc, nhưng không thấy dây bướm bạc nữa. Anh tìm đến Giáo sư Vũ Văn Chuyên để hỏi thì giáo sư cũng không biết dây bướm bạc nay còn ở đâu. Từ đấy, anh Nghĩa có ý thức tìm và lưu giữ cây thuốc quý, không thì do những nguyên nhân như phá rừng lấy gỗ hay trồng cà phê, san bằng bãi biển làm khu du lịch… chúng sẽ biến mất. Mãi đến năm 2007, anh Nghĩa mới gặp dây bướm bạc ở đèo Ngang (Quảng Bình), rồi lại gặp nó ở điện Hòn Chén (Huế).

Một lý do nữa khiến anh Nghĩa đi tìm cây thuốc là vì sinh thời Giáo sư Đỗ Tất Lợi, thầy của anh muốn như vậy. Thầy hồi xưa cũng rong ruổi khắp nơi tìm cây thuốc và cũng muốn đứa học trò ruột của mình không chỉ hiểu lơ mơ về cây thuốc mà phải biết ngọn ngành từ lúc nó mọc ở đâu, ra hoa (kết trái nếu có) như thế nào? Mới có thể dùng nó chữa bệnh một cách tốt nhất. Giáo sư Đỗ Tất Lợi cũng mong muốn cuốn “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” lần tái bản sắp tới sẽ được minh họa bằng hình ảnh màu.

Vườn bảo tồn cây thuốc

Những năm tháng lên rừng, xuống biển cực nhọc và gặp không ít hiểm nguy cũng đã mang lại cho LY. Nguyễn Đức Nghĩa nhiều điều. Trước hết, đó là một vốn kiến thức khá dày dặn về cây thuốc sống mà hiếm người tuổi cỡ 50 như anh có được. Anh có thể biết cây thuốc đó sinh trưởng như thế nào, phân bố ở đâu, trữ lượng ra sao… Điều này rất nhiều thầy thuốc ở các tỉnh thành phía Nam đều công nhận. Tiến sĩ Võ Văn Chi (nhà thực vật học hàng đầu Việt Nam) cũng rất hay tham khảo ý kiến của anh Nghĩa khi có một cây thuốc lạ nào đó. Anh cũng chụp ảnh được hơn 400 cây thuốc để chuẩn bị cho lần tái bản sắp tới của “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam”.

Lương y Nguyễn Đức Nghĩa và một số thợ rừng xã Cam An, huyện Cam Lâm, Khánh Hòa.

Lương y Nguyễn Đức Nghĩa và một số thợ rừng xã Cam An, huyện Cam Lâm, Khánh Hòa.

Đáng quý hơn, hiện anh Nghĩa đang có một vườn với gần 200 cây thuốc quý tại Q.9, TP.HCM. Vườn rộng chừng 1.000m2 này, mỗi cây thuốc lại gắn với một kỷ niệm về những chuyến đi của anh. Ở đây người ta có thể bắt gặp cây bồ cu vẽ, sắn thuyền, chỉ thiên, bồ công anh (4 loại), đinh lăng (8 loại), màn kinh tử, vọng giang nam, trâu cổ, bình vôi…

Các LY trẻ và nhiều sinh viên trường Đại học Y Dược TP.HCM thỉnh thoảng đến đây để tận mắt chứng kiến những cây thuốc mà họ thường chỉ mới nghe qua hay đọc trong sách vở. Một số giảng viên Đại học Y Dược TP.HCM cũng đến đây lấy cây thuốc làm mẫu cho sinh viên nghiên cứu. Nhiều LY đến xin cây làm giống trồng ở trạm y tế, hay vườn nhà. Đây cũng là nơi anh Nghĩa giảng dạy cho một số học trò về cây thuốc.

Từ vườn thuốc này, anh Nghĩa cho trồng ở một số nơi, trên diện tích rộng, như: chè vằng, hoài sơn, gối hạc… nhằm sử dụng cho nhà thuốc của mình và các đồng nghiệp. Anh cũng hy vọng rằng trong tương lai, các LY Việt nam chủ động được nguồn thuốc để khỏi phải phụ thuộc quá nhiều vào nguồn dược liệu nhập về từ Trung Quốc, chất lượng không đảm bảo.

Một tờ báo ra ngày 17/2/2009, có tin: “600 cây thuốc quý có nguy cơ bị tuyệt chủng”, nguồn tin được lấy từ Viện Dược liệu, Bộ Y tế. LY. Nguyễn Đức Nghĩa sau những năm âm thầm đi nhiều nơi tìm thuốc thấy rõ nguy cơ đó. Vì vậy, hễ tìm được cây thuốc là anh mang cây giống về vườn, đồng thời ở một số cây anh dặn dân địa phương gìn giữ để có thể khai thác lâu dài, bán cho anh dùng chữa bệnh.

Lương y Nguyễn Đức Nghĩa ở đèo Ngoạn Mục, Lâm Đồng.

Lương y Nguyễn Đức Nghĩa ở đèo Ngoạn Mục, Lâm Đồng.

Anh nói: “Còn sức là tôi còn đi tìm cây thuốc. Không những đi theo định kỳ đầu năm mới mà hễ nghe ai nói có cây thuốc ở đâu đó là tôi xách xe đi liền. Tốn tiền, tốn sức lực nhưng bù lại có những cây thuốc để cứu giúp người bệnh”.

Hy vọng LY. Nguyễn Đức Nghĩa cùng các học trò của mình với những chiếc vespa, tăng võng… sẽ nhanh chân cứu lấy những cây thuốc quý trước khi chúng biến mất vĩnh viễn.

Nguyễn Hưng

Advertisements

Vườn thuốc nam giữa thành phố Hòa Bình

SONY DSC

Ông Hùng sơ chế cây thuốc Nam

Trong khi nguồn dược liệu quý ở nhiều khu rừng tự nhiên đang ngày càng bị khai thác cạn kiện thì từ nhiều năm qua, bằng tình yêu với các loại cây rừng, cây thuốc, ông Bùi Việt Hùng ở phường Chăm Mát, TP.Hòa Bình đang âm thầm nhân giống, gìn giữ nhiều loại cây thuốc quý hiếm.

Tình yêu với thảo mộc

Khuôn mặt xương xương, nhỏ nhắn, bàn tay thô ráp bởi thường xuyên tiếp xúc với đất, với lá thuốc, với nắng gió ngoài vườn, những câu chuyện về ông cứ miên man từ đề tài này sang đề tài khác. Người dân Hòa Bình từng biết đến cái tên Hùng qua nhiều biệt danh khác nhau như: Hùng luồng, Hùng linh chi và gần đây là Hùng cỏ ngọt. Mỗi cái tên là một câu chuyện về tình yêu với cây rừng, cây thuốc.

Uống chén nước trà pha vội trong căn liều mới dựng ngoài vườn thuốc, ông kể: Vốn quê gốc ở Nghệ An, nhưng sinh ra và lớn lên ở Hòa Bình. Ngay từ khi còn là sinh viên khoa lâm sinh của trường lâm nghiệp, ông đã dành tình yêu và để tâm chú ý những loài cây dùng làm thuốc trong tự nhiên. Sau này khi làm giáo viên lâm mộc của trường Cao đẳng cộng đồng ở Xuân Mai, ông càng có điều kiện để đi sâu nghiên cứu, phân loại các loài cây rừng, cây dược liệu.

Năm 1979, khi chuyển công tác về Hòa Bình, ông tham gia vào Tổng đội thanh niên xung phong. Khi đó, tỉnh ta đang có chiến dịch lá chắn xanh, phủ xanh nhiều ha đồi núi trọc bằng cây luồng ở Đà Bắc, khu vực động Cô Tiên. Tuy nhiên, nhiều diện tích luồng đang chết dần mà không rõ nguyên nhân. Bằng kinh nghiệm, kiến thức của mình cộng với nhiều ngày “đội nắng, đội mưa” quan sát thời kỳ sinh trưởng, phát triển của cây luồng, ông đã tìm ra nguyên nhân là do những cây luồng được trồng chưa đủ tuổi. Việc tìm ra kỹ thuật nhân giống luồng đã giúp cho công cuộc phủ xanh ở nhiều miền đồi núi ở tỉnh ta thành công. Thành công của Hùng luồng còn được biết đến với việc phủ xanh thành công đồi Ông Tượng nơi toạ lạc Tượng đài Bác Hồ bằng thông Caribê và thông Mã Vĩ chỉ sau hơn một tháng nhận “nhiệm vụ”. Bên cạnh việc trồng rừng, tình yêu và niềm tâm huyết của ông Hùng vẫn dành cho việc nghiên cứu và tìm hiểu cây thuốc trị bệnh cứu người.

hb03

Vườn thuốc nam của ông Bùi Việt Hùng là nơi bảo tồn nhiều loài cây thuốc quý hiếm.

Gìn giữ nguồn dược liệu

Trong những năm lăn lội khắp vùng rừng núi Tân Lạc, Lạc Sơn, Đà Bắc,ông đã nhận ra rằng, núi rừng Hòa Bình rất giàu có và phong phú về các loại thảo mộc, thảo dược, trong đó có nhiều loài quý hiếm như linh chi, sạ đen…Chỉ có điều, những loài dược liệu trong tự nhiên đang ngày càng bị khai thác cạn kiệt. Chính điều này cộng với tâm nguyện yêu thương, cứu người đã làm động lực để ông nhân giống và gìn giữ nhiều loại cây thuốc quý hiếm. Ông bảo: “ít ai nghĩ đến bảo tồn, gìn giữ chỉ nghĩ đến khai thác. Chính vì vậy, mình càng nhân giống, càng trồng được nhiều cây thuốc bao nhiêu càng quý bấy nhiêu”.

Từ những năm 90, ông Hùng đã bắt đầu tiến hành và gieo trồng tại vườn nhà nhiều loài dược liệu. Cho đến nay khu vườn thuốc nam của ông đã có đến ba, bốn chục loại cây thuốc, trong đó có nhiều cây quý hiếm như câylăng mường (còn có tên gọi là sạ đen), cây khôi nhung (chữa đau dạ dày),sâm một lá…vườn thuốc xanh tốt cho thu hái năng suất cao và chất lượng tốt.

hb05

Kỹ sư Bùi Việt Hùng

Đặc biệt, trong vườn thuốc của ông Hùng, còn có khá nhiều cây thìa canh giúp trị tiểu đường hạ mỡ máu. Cây thìa canh thuộc họ thiên lý, tại Ấn Độ và Trung Quốc người ta đã sử dụng cây này để trị bệnh nước ngọt từ 2000 năm nay. Việc sử dụng cây thừa canh thường xuyên giúp ổn định hàm lượng đường huyết, do đó có thể phòng ngừa và chống được các biến chứng nguy hiểm của bệnh tiểu đường. Nói vui, ông cười bảo: “Cái thứ cây này sẽ giúp những người bị bệnh tiểu đường từ nay sẽ không còn phải chung sống với căn bệnh thời đại này nữa”.

Với mong muốn giữ gìn và bảo tồn nguồn dược liệu quý hiếm, hiện nay ôngHùng đã đầu tư 300 triệu đồng từ nguồn vốn tự có và vốn vay ngân hàng để phát triển cây thuốc. Thời gian vừa qua, ông đã trồng được 4000m2 cây cỏ ngọt. Trò chuyện về cây dược liệu này, ông cho biết: Cây cỏ ngọt vốn mọc hoang ở Paraguay được nhập giống về trồng ở Việt Nam. Từ năm 1990, Công ty Dược liệu TWI đã hướng dẫn kỹ thuật trồng trên diện tích sản xuất ở Bắc Giang, Hưng Yên để cung ứng cho nhu cầu trong nước và xuất khẩu. Tuy nhiên, do thời gian những cây này trở nên già cỗi và chết dần. Khi được các cán bộ của Công ty Stevia cung cấp một số cây giống ban đầu, ông đã mày mò nghiên cứu thời gian trổ hoa, sinh trưởng và hiện nay đã nhân giống thành công.

Bên cạnh việc mở rộng diện tích, các yếu tố về kỹ thuật và chăm sóc cây thuốc luôn được đảm bảo. “Vườn thuốc không hề sử dụng phân bón hóa học và thuốc trừ sâu độc hại. Các loại phân được sử dụng là phân hữu cơ, phân xanh được ủ kỹ. Thuốc trừ sâu bọ cũng được chiết suất từ các loại thảo mộc. Cây thuốc sau khi thu hoạch được lựa chọn kỹ và phơi nắng tự nhiên đảm bảo giữ được những hoạt tính tự nhiên và có tác dụng tốt nhất” – ông Hùng chia sẻ. Từ vườn cây thuốc này hàng năm ông đã cung ứng cho các công ty dược và thị trường hàng trăm kg thuốc nam đã sơ chế.

Không chỉ là nơi giữ gìn và bảo tồn nguồn gen dược liệu quý hiếm, hiện nay khu vườn thuốc nam của ông Hùng còn là nơi các học sinh trường kỹ thuật – kinh tế Hoà Bình tới thực hành, tìm hiểu về các loại cây thuốc. Các em học sinh đến đây đều được ông hướng dẫn và chỉ bảo tận tình, giúp ông làm vườn vừa học vừa được trả công nhưng cái chính là giúp các em có ý thức giữ gìn và bảo vệ nguồn dược liệu quý trong tự nhiên. Mỗi em khi về địa phương, đều được ông tặng 100-150 cây cỏ ngọt để nhân giống ở địa phương. Ông Hùng cho biết: Hiện nay, cây cỏ ngọt đã được Công ty Stevia đặt hàng, do đó nếu như các địa phương nhân giống và mở rộng diện tích trên diện rộng vừa góp phần bảo vệ cây thuốc quý vừa đem lại thu nhập cho bà con nhân dân. Cây cỏ ngọt nói riêng, cây thuốc nam nói chung nếu được bảo vệ, giữ gìn tốt sẽ là nguồn thuốc chữa bệnh rất tốt cho nhân dân.

(báo Hòa Bình – Hoàng Toản)

Cần làm cho mọi người hiểu đúng về Đông y

PGS-TS Nguyễn Thị Bay, Trưởng bộ môn Bệnh học – Khoa y học cổ truyền – ĐH Y Dược TP.HCM, đã có hơn 30 năm trăn trở nghiên cứu và giảng dạy về Đông y, vượt qua sự nông nổi của tuổi trẻ, để trở thành người thầy thuốc gắn bó, tận tâm cống hiến cho sự nghiệp phát triển của y học cổ truyền. Với cái nhìn của một thầy thuốc hiểu biết, được đào tạo từ nền tảng y học hiện đại, những chia sẻ của bà làm sáng tỏ hơn những góc nhìn thú vị về Đông y.

*Được biết ngày còn trẻ, là sinh viên y khoa, bà mê Tây y nên đã rất quyết liệt tìm cách “bỏ chạy” khi được phân công sang Đông y? 
– Đó là câu chuyện dài. Khi là sinh viên y khoa, từ lúc bắt đầu được vào bệnh viện thực hành, tôi đã “mê” trở thành bác sĩ phẫu thuật vì khả năng giải quyết dứt điểm ngay căn bệnh quá thuyết phục. Đến cuối năm thứ năm, tôi đăng ký chuyên khoa vào ba nguyện vọng: Phẫu nhi, Nội nhi và Sinh lý bệnh. Vậy mà cuối cùng bất ngờ “bị” đẩy qua Đông y.Tôi phản ứng dữ dội, nên bị kiểm điểm là đoàn viên thiếu gương mẫu, không còn đủ tiêu chuẩn Hồng và Chuyên để thi vào nội trú, không được học ngành yêu thích. Là một lớp phó học tập, một sinh viên trẻ, đầy mơ ước, đó là cú sụp đổ lớn.


*Vì sao học Đông y lúc đó lại kinh khủng vậy? 

– Thời đó, ở miền NamĐông y chưa có điều kiện phát triển, còn tự phát, không được xã hội đánh giá cao. Trong gia đình, người thân cho rằng học kém mới phải đi Đông y. Bản thân tâm lý tuổi trẻ muốn học và được tiếp cận với nền y học tiên tiến, được ứng dụng các kỹ thuật khoa học cao để cứu người – giúp đời. Hoài bão cao vời vợi lại phải đối diện với cảnh chân đất hái thuốc, lỉnh kỉnh những sao tẩm chế biến giản đơn, như đi lùi về hàng chục thế kỷ trước…

*Rồi cô sinh viên trẻ Nguyễn Thị Bay chạy trốn tiếp tục như thế nào? 

– Phải về Đông y, nhưng tôi không cam phận, mà cố gắng xin và được thầy trưởng bộ môn cho làm đề tài “Nghiên cứu tác dụng giảm đau – chống viêm của rượu thấp khớp trên bệnh viêm khớp dạng thấp” tại khoa Tim mạch – Khớp, Bệnh viện Chợ Rẫy và thi lấy bằng bác sĩ bằng đề tài này. Vậy là đã theo cái nghiệp Đông y rồi. Mặc dù đề tài được giải A của Thành đoàn, nhưng khi tôi lên báo cáo, đám bạn ngồi dưới gõ bàn ý như chọc tôi đang quảng cáo Sơn Đông mãi võ.

Rồi tôi trải qua nhiều công việc, làm dược lý thực nghiệm trên động vật, đi học sơ bộ chuyên khoa Dược lý, được phân công giảng dạy sinh viên năm 4-5 Y đa khoa, ngồi phòng khám – khám bệnh với thầy Nguyễn Văn Hưởng, tiếp tục cùng một số đồng nghiệp trong bộ môn sang làm việc tại Bệnh viện Chợ Rẫy để xây dựng khoa Đông y. Việc này khi ấy thất bại vì bệnh nhân vào Chợ Rẫy là muốn được điều trị Tây y, nhưng chúng tôi cũng có cơ hội được làm việc, học tập, rèn luyện điều trị nội khoa như một bác sĩ đa khoa.

Sau đó, tôi trở về bộ môn Đông Y, về Viện Y Dược học dân tộc và Trường Tuệ Tĩnh 2 để giảng dạy. Tôi xin GS Bùi Chí Hiếu là Trưởng bộ môn cũng là Viện phó Viện Y Dược học dân tộc thành lập nhóm nghiên cứu Kinh dịch và xung phong làm thư ký, thành lập nhóm nghiên cứu lâm sàng…Mãi đến cuối những năm 1990 tôi mới ổn định hẳn.

*Chắc trải qua nhiều công việc như vậy, bà mới tìm được tình yêu với nghề?

– Cũng chưa hẳn vậy. Năm 1994, tôi được học bổng qua Nhật làm thực tập sinh Dược lý thực nghiệm. Tôi học dược lý, thực hiện đề tài nghiên cứu thuốc y học cổ truyền (YHCT) trên các mô hình bệnh lý ở động vật thí nghiệm. Chính lúc này tôi mới thực sự nhận ra hết những cái hay của Đông y và hối tiếc cho thời gian đã qua…

* Chuyến đi học ở Nhật có gì đặc biệt khiến bà nhận ra điều mà bao năm trong nước lăn lộn vẫn chưa nhận ra về Đông y?
– Thực ra, đây chỉ là thời gian tôi được suy nghĩ độc lập nhiều nhất, suy nghiệm lại bản thân cộng với điều kiện làm việc tốt, cảm nhận được sự phát triển Đông y ở các nước, sự cần thiết của Đông y trong điều trị và phòng bệnh.

Một điều nữa là trong sự thiếu may mắn không được học đúng chuyên khoa mình yêu thích, tôi lại được dạy học. Làm cô giáo là nghề nghiệp có trong ước mơ thời thơ ấu của tôi. Những buổi lên lớp, nhận được những tình cảm chân thực từ sinh viên, học viên lương y, nhìn họ khao khát hiểu biết Đông y trong khi mình cứ muốn quay lưng chối bỏ…, tôi dần thay đổi.

Ở Nhật, ngồi cô đơn trong thư viện, đọc lại những tác phẩm kinh điển của Đông y như Nội kinh, Thương hàn luận một cách nghiêm túc, trong thí nghiệm ngồi quan sát bệnh phẩm, cân đong đo đếm từng giọt nước tiểu, từng thành phần trong mẫu máu…, tôi suy tưởng lại vấn đề của mình.

Tôi gặp rất nhiều bác sĩ từ khắp nơi như Nepal, Thái Lan, Trung Quốc, các nước Trung Đông đến học tập, nghiên cứu. Họ cũng như tôi, là bác sĩ điều trị bệnh tại nước họ, nhưng khác là họ đi học nghiên cứu sinh, có giai đoạn vào phòng thí nghiệm làm nghiên cứu, học các kỹ thuật về dược lý thực nghiệm. Họ trao đổi kinh nghiệm làm việc, viết bài báo khoa học đăng trên các tạp chí quốc tế, không khí làm việc say mê, tận tụy…

Khi rảnh, tôi đến thăm các bệnh viện ở Nhật, thấy họ không có sự phân biệt nào với Đông y. Một bệnh nhân đeo toòng teng chai dịch truyền thuốc Tây vẫn hằng ngày uống thuốc Đông y. Người bệnh hoàn toàn tin tưởng, bác sĩ Tây y chỉ định các thuốc Đông y,… không phân biệt gì cả. Tôi nhìn lại mình, cứ trốn chạy nghề, mơ Tây y. Tôi tiếc mình sao không sớm nhìn ra được giá trị thật của YHCT, không sống đúng với công việc của mình.

*Đến bây giờ, bà đã nhận ra sự huyền ảo, quyến rũ của Đông y. Vậy theo bà, sức mạnh của Đông y là gì? 
– Đó là khoa học thật sự, dù vẫn còn hoang sơ… Đông y là một ngành học như Tây y, chứ không chỉ là một chuyên khoa lẻ như nhiều người quan niệm. Có đầy đủ các chuyên khoa Nội, Ngoại, Phụ, Nhi, Ngũ quan Đông y, có cơ sở lý luận về sức khỏe, bệnh tật, chẩn đoán, điều trị… dựa trên học thuyết triết học Đông phương. Ngôn ngữ về học thuật về bệnh danh khác với Tây y, nhưng có cơ sở khoa học riêng.

Chúng ta cũng biết rằng, từ những năm 1930, ngành hóa dược phát triển, y học đã nhận biết sở dĩ thuốc YHCT có tác dụng điều trị là vì mỗi dược liệu đều có chứa những thành phần hợp chất hóa học nhất định.

Cũng vậy, nhiều công trình đã chứng minh châm cứu có tác động làm cho cơ thể tiết ra các chất như endorphin, morphin giúp giảm đau, epinephrin giúp giãn phế quản, cortison giúp chống viêm, oxytocin giúp kích cơn co tử cung, v.v… Các công trình nghiên cứu về dược liệu về thuốc YHCT ghi nhận các tác dụng chống các gốc tự do (các gốc tự do này gây viêm, gây lão hóa nhanh tế bào), tác dụng kháng sinh, chống viêm, giảm đau, giãn phế quản,…

*Hơn thế nữa, khi đối diện với người bệnh giai đoạn cuối, không còn phương pháp nào điều trị nữa, trả về gia đình, thì Đông y sẽ là giải pháp tốt. Thí dụ trong bệnh xơ gan mất bù, Tây y sẽ làm gì ngoài giải quyết triệu chứng? 
– Đông y có thể giúp được, thuốc và một số phương pháp YHCT giúp duy trì và phục hồi một số tế bào gan còn lại để tiếp tục đảm nhiệm chức năng của mình trong cơ thể. Chúng tôi đang đúc kết hiệu quả điều trị một số bệnh mạn tính trên các chuẩn mực đo đạc khoa học để có thể công bố, qua đó giúp cho chất lượng sống của người bệnh và hỗ trợ cho điều trị hiệu quả hơn.

Như vậy Đông y chỉ có thể hỗ trợ cho điều trị chứ không thể điều trị độc lập? Không hẳn vậy, Đông y vừa có thể hỗ trợ Tây y, vừa có thể điều trị độc lập. Như đối với các bệnh khó, bệnh ác tính, cần có những giải pháp trúng đích như phẫu thuật, xạ trị, hóa trị trong ung thư, nhưng các phương pháp này đều gây ra nhiều tác dụng phụ bất lợi, cũng như bệnh làm cho cơ thể suy sụp, thì sử dụng Đông y trong trường hợp này là hỗ trợ, giúp giải quyết những tác dụng phụ của thuốc Tây đồng thời bổ dưỡng cho cơ thể người bệnh.

Một số trường hợp bệnh thông thường, bệnh mạn tính vẫn có thể chỉ dùng Đông y điều trị, có thể giải quyết độc lập. Thí dụ viêm phế quản, Đông y vẫn có kháng sinh thực vật, có kháng viêm, có thuốc giảm ho… đầy đủ như một phác đồ điều trị của Tây y. Hay viêm loét dạ dày tá tràng ngay cả khi có HP+, thuốc và các phương pháp không dùng thuốc của Đông y vẫn có thể giải quyết được đúng yêu cầu của nguyên tắc điều trị theo Tây y.

*Thực tế nhiều người dân yêu thích chữa bằng Đông y, nhưng Đông y lại kém phát triển, không chiếm lĩnh trận địa khám chữa bệnh, để cho các loại chữa bệnh mê tín dị đoan có đất sống. Bà có nghĩ vậy không? 
Không phải Đông y kém phát triển, mà do nhận thức của người dân. Khu vườn lạ Long An chẳng hạn. Tôi có tham gia nghiên cứu đề tài này của Bộ về khía cạnh y tế. Có nhiều người bệnh đến đó rồi về vẫn chết, nhưng không ai thông tin, mà chỉ đồn thổi những điều hoang đường. Từ Hà Nội đến Cà Mau đều đổ về, biến cái làng thành một thứ đô thị dịch vụ. Nhiều nơi khác còn chữa bệnh bằng nước lã, đánh đập… vẫn có người tìm đến.

Điều này nói lên sự đáp ứng chữa bệnh của các cơ sở y tế chưa tốt, y tế cộng đồng, chăm sóc sức khỏe ban đầu chưa đủ, và cũng nói lên vấn đề nhận thức của người dân còn yếu kém. Có lỗi của cả ngành y tế lẫn giáo dục, văn hóa – thông tin.

* Nhưng phải công nhận rằng bây giờ truyền thông y tế phát triển khá ồ ạt. Bà có thấy, mở tivi, báo chí ra có bao nhiêu kênh nói về thuốc men, bệnh tật, thậm chí có người nói đời sống đang bị y khoa hóa? 
– Tôi thấy chứ. Nhiều nhưng vẫn thiếu. Nhu cầu được hiểu biết là một nhu cầu chính đáng của người dân, nhất là về sức khỏe. Nên có các chương trình truyền thông y tế mang tính giáo dục cho dân, không chỉ đơn thuần thương mại, mà cần sự hợp tác của các trường đại học y, có tổ chức và phi lợi nhuận, phát sóng vào những giờ vàng.

* Vậy theo bà phải làm thế nào mới đúng? 

– Cần làm cho mọi người hiểu đúng về Đông y, về các phương pháp tác động chăm sóc và điều trị của Đông y, như cách sống như thế nào để giữ cho Tinh, Khí, Thần, Huyết dịch trong cơ thể ổn định – quân bình cả lúc thường lẫn lúc có bệnh; thức ăn và cách ăn thế nào; cách tập luyện phù hợp với tuổi tác; xoa bóp bấm huyệt, nồi xông cháo cảm và đến sử dụng thuốc cây cỏ như thế nào để điều trị hoặc phòng bệnh, v.v…

* Nhưng thuốc Đông y bây giờ cũng do nhiều hãng thuốc Tây sản xuất. Lực lượng chuyên nghiệp của Đông y đâu rồi? 

– Theo tôi, về đào tạo, chúng ta đang thiếu lực lượng dược sĩ YHCT, mặc dù chương trình đào tạo dược sĩ Tây y cũng có phần học về dược liệu, về bào chế thuốc v.v… nhưng một học phần nhỏ trong chương trình dược Tây y chưa đủ để những dược sĩ ra trường toàn tâm toàn ý cho bào chế sản xuất Đông dược, nếu có vẫn là Tây y hóa Đông y.

*Vì sao Đông y có quãng phát triển khá dài mà các thầy thuốc cũng còn ít tin tưởng và áp dụng nó trong công việc chữa bệnh của mình?

Vì có quá ít các thuốc thành phẩm YHCT, chúng tôi hay nói là thiếu vũ khí cho thầy thuốc dễ dàng sử dụng. Một bác sĩ YHCT mới ra trường, sau sáu năm học, họ còn thiếu kinh nghiệm trong việc phối hợp các dược liệu cấu tạo thang thuốc, còn thuốc thành phẩm thì chưa nhiều, họ đành sử dụng sở đoản là dùng thuốc Tây thay vì sở trường của chuyên khoa mình.

Còn phía các thầy thuốc y học hiện đại, họ chưa có đủ thông tin về các thành phẩm YHCT đã có. Có mâu thuẫn không khi ta thấy ngoài thị trường hằng ngày trên các phương tiện truyền thông quảng cáo rất nhiều sản phẩm thuốc Đông y, thuốc có nguồn gốc từ thảo dược v.v…, vậy sao lại nói thiếu?

Thiếu ở đây là thiếu những thuốc được sản xuất thông qua các công trình nghiên cứu quy mô và nghiêm túc, mà nghiên cứu cơ bản kiểu này mức đầu tư rất lớn, nên rất khó khăn… Một điều không kém phần quan trọng là thuốc Đông y còn quá đắt tiền, ngoài bộ phận được khám và do bảo hiểm chi trả, số đông người bệnh phải cân nhắc lựa chọn thuốc phù hợp với túi tiền, thầy thuốc phải cân nhắc để còn giữ bệnh nhân…

Như một người bệnh bị tăng huyết áp, kèm theo tăng mỡ máu, nếu dùng thuốc Tây có thể chỉ tốn từ 15-20 ngàn đồng mỗi ngày, còn một thang thuốc điều trị bệnh cảnh này có thể từ 60-80 ngàn đồng mỗi ngày. Dĩ nhiên sự so sánh này là khập khiễng, nhưng nếu chỉ xét trên khía cạnh tài chính thì đây là vấn đề mà các nhà quản lý về y dược học cổ truyền phải quan tâm.

*Có cách nào cho các bác sĩ trẻ chú ý điều trị bệnh nhân kết hợp với Đông y?

Thật ra, bác sĩ bây giờ vẫn còn “thiếu vũ khí”, tức là thiếu thuốc thành phẩm Đông y đặc trị mà vẫn phải dùng thuốc thang là chính. Để có thể cấu tạo một thang thuốc, phối hợp dược liệu như thế nào để tránh tương tác thuốc, cần phải có kinh nghiệm, người thầy thuốc phải hiểu và giỏi nghề.

Qua quá trình đào tạo, các bác sĩ đã được trang bị kiến thức để chẩn đoán và điều trị cho người bệnh, nay chỉ cần thời gian, với sự tận tâm tự đào tạo và lòng yêu nghề, các bác sĩ trẻ sẽ nhanh chóng có đủ bản lĩnh với nghề nghiệp.

* Một loại thuốc Tây bao giờ cũng có đầy đủ thành phần, hàm lượng và các chỉ định rõ ràng, vậy đâu là cơ sở khoa học để tin cậy đối với một thang thuốc Đông y? Bà có thể nói đơn giản nhất để nhiều người có thể hiểu được? 
– Để có cơ sở khoa học tin cậy một thang thuốc Đông y còn là điều khó, ngoại trừ niềm tin vào người thầy thuốc kê đơn, nói như vậy không có nghĩa là thuốc thang không có cơ sở khoa học, mà bởi vì cơ sở khoa học mỗi thang thuốc dựa trên lý luận triết học Đông phương, mỗi dược liệu trong thang thuốc cũng có liều lượng số gam, mỗi dược liệu được thầy thuốc cân nhắc cấu tạo theo Quân, Thần, Tá, Sứ (Quân dược là vị thuốc chính nhằm điều trị bệnh chính, vị Thần nhằm hỗ trợ làm tăng tác dụng của vị quân, Tá là dược liệu nhằm vào triệu chứng phụ kèm theo bệnh chính hoặc giải quyết các tác dụng phụ có hại của các vị thuốc chính, vị Sứ có tác dụng điều hòa các vị thuốc trong thang thuốc và đưa thuốc đến mô đích). Để kiểm nghiệm các thành phần của thang thuốc hiện nay vẫn có thể thực hiện được tại viện kiểm nghiệm, trường dược, v.v…

Còn căn cứ để chẩn đoán bệnh trong Đông y, chỉ cần bắt mạch, có chính xác không? Bắt mạch là một trong bốn phương pháp chẩn đoán của Đông y (Vọng, Văn, Vấn, Thiết), ngày nay các thầy thuốc YHCT chẩn đoán bệnh phải thực hiện đầy đủ các bước khám bệnh như các thầy thuốc đa khoa Tây y, đồng thời khám theo YHCT trong đó có bắt mạch.

Theo Đông y, mạch là biểu hiện của hoạt động Khí và Huyết và hoạt động của các chức năng Tạng phủ bên trong cơ thể, người thầy thuốc giỏi có thể dựa trên mạch để đánh giá và tiên lượng diễn biến của bệnh. Vì vậy, dù trước đây hay hiện nay, bắt mạch chỉ góp phần phối hợp chẩn đoán và tiên lượng bệnh.

* Nếu để Đông y phát triển tốt hơn nữa, theo bà cần phải làm gì?
– Ở tầm vĩ mô, chính sách quốc gia về YHCT phải được tiếp tục (năm 2010 là nhắm vào đào tạo cung cấp nguồn nhân lực thầy thuốc YHCT và phát triển YHCT trong chăm sóc sức khỏe ban đầu). Phải tiếp tục nghiên cứu và sản xuất các thuốc thường dùng, thuốc đặc trị, bác sĩ phải có đủ vũ khí.

Cũng cần phải quan tâm đến tăng cường nuôi trồng cây con thuốc trong nước, chủ động được nguồn dược liệu thì giá thành mới ổn định và phù hợp với thu nhập bình quân của người dân. Rất cần đào tạo dược sĩ YHCT.

*Còn về khía cạnh phát triển khoa học thì sao, thưa bà?
– Về khoa học, phải tập hợp lại. Đông y bề rộng phát triển nhiều, nhưng chưa có bề sâu. Phải xem xét trước mắt hai việc: Thống nhất được thuật ngữ Đông y và nghiên cứu khoa học Đông y. Về thuật ngữ Đông y, phải có hội thảo khoa học lớn, cần tiêu chuẩn hóa được chẩn đoán YHCT, giúp được người học, người nghiên cứu khoa học tiếp cận dễ dàng hơn.
Về nghiên cứu khoa học, đây là việc làm tối cấp thiết để phát triển Đông y, vấn đề ở đây là tài chính, bởi nghiên cứu khoa học rất tốn kém.

* Bà viết nhiều sách giáo khoa và nghiên cứu Đông y, tham gia nhiều ban chấp hành các hội về Đông y, vậy bà có thể kể một số người làm Đông y của nước ta hiện nay, có những tên tuổi nổi tiếng như kiểu Tôn Thất Tùng hoặc các tên tuổi chuyên khoa đầu ngành như bên Tây y không? 
– Cũng có thể so sánh, nhưng hơi khập khiễng, vì một bên để lại cho khoa học một phương pháp, một kỹ thuật y khoa, rất sâu, còn một bên là sách vở, phổ biến kiến thức, hệ thống hóa các kinh nghiệm người xưa… Những thầy thuốc YHCT tên tuổi của Việt Nam trong vòng 50 năm trở lại đây có thể kể: GS Đỗ Tất Lợi, BS Nguyễn Văn Hưởng, GS Bùi Chí Hiếu, GS Hoàng Bảo Châu, GS Trần Thúy, GS Nguyễn Tài Thu, GS Trần Văn Kỳ, Lương y Lê Quý Ngưu, Lương y Nguyễn Trung Hòa, Lương y Trần Khiết…

*Trong tủ thuốc gia đình về Đông y, bà khuyên nên có trữ những gì? 

– Dầu gió để đánh gió khi cảm. Rượu xoa bóp dành cho người có tuổi. Gừng tươi hoặc khô dành để ngậm khi buồn nôn hoặc ho, uống với trà nóng để cầm tiêu chảy. Hoa cúc nấu trà uống để giải độc, sáng mắt. Lá dâu, lạc tiên để nấu nước uống thay trà giải quyết vấn đề giấc ngủ… Đó là các loại thông dụng, còn thuốc phải có chỉ định của thầy thuốc, không nên tự dùng.

* Xin cảm ơn bà.

 (NGUYỄN THỊ NGỌC HẢI thực hiện/DNSG Cuối tuần)

Cố GS-TS Đỗ Tất Lợi – Cây đại thụ giữa rừng thảo dược

Cố GS Đỗ Tất Lợi trong phòng thí nghiện Đại học Y-Dược Hà Nội

Đỗ Tất Lợi (1919-2008) bắt đầu nghiên cứu dược học từ năm 1939, khi đang là sinh viên của trường Đại học Y Dược Hà Nội. Sau kháng chiến chống Pháp, ông trở thành Chủ nhiệm Bộ môn Dược liệu của Đại học Y Dược Hà Nội. Trong thời gian này, ngoài công việc giảng dạy, ông tập trung toàn bộ vào việc nghiên cứu về các dược liệu Việt Nam, tìm hiểu các tài liệu nghiên cứu trước đó của phương Đông và phương Tây, nghiên cứu trong phòng thí nghiệm, đồng thời đi nhiều nơi trên đất nước để tìm kiếm các vị thuốc. Năm 1962, ông cho ra mắt bộ sách Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam (hay Dược liệu học và các vị thuốc Việt Nam[2]. Đây là một bộ sách lớn, lần xuất bản đầu tiên (1962-1965) được in 10.000 cuốn, chia làm 6 tập, tổng cộng dày 1.494 trang. Bộ sách đã giới thiệu hơn 750 vị thuốc, gồm 164 cây thuốc, 77 vị thuốc động vật, 20 vị thuốc khoáng vật. Mỗi loại đều có tên khoa học, tên tiếng Việt và tên chữ Hán, những đặc tính chung, mô tả quá trình phân phối, thu hoạch, chế biến, thành phần hoá học và công dụng, liều dùng. Cuốn sách bao gồm cả những loại thuốc mà các nhà khoa học đã xác minh cơ chế, lẫn cả những loại được kiểm chứng hiệu nghiệm trong thực tế nhưng vẫn chưa được nghiên cứu rõ ràng.

Trong lời giới thiệu bộ sách lần xuất bản đầu tiên, Thứ trưởng Bộ Y tế Việt Nam, ông Vũ Công Thuyết, đã viết:
“ …Bộ sách đã thể hiện một công trình sưu tầm, nghiên cứu rất công phu, một khối lượng lao động rất lớn trong nhiều năm của tác giả. Nhiều công trình nghiên cứu trong nước, nhiều tài liệu nước ngoài đã được khảo sát, chọn lọc, cộng với hơn 20 năm trong nghề của tác giả, một cán bộ đã có nhiều nhiệt tình và cống hiến trong việc nghiên cứu thuốc nam. [2] ”

Đọc Thêm :

GS-TS Đỗ Tất Lợi – Cây đại thụ giữa rừng thảo dược

Câu định nghĩa giản dị ngắn gọn này đã trở thành mục đích cả cuộc đời GS Đỗ Tất Lợi: Nghiên cứu y học cổ truyền là tìm ra những điều mà y học hiện đại chưa biết.

Buổi trò chuyện với GS-TS Đỗ Tất Lợi mùa đông năm ấy, tôi làm sao quên được…

GS-TS Đỗ Tất Lợi sinh năm 1919, xuất thân từ một gia đình làm nghề nông ở làng Phù Xá, huyện Kim Anh, Phúc Yên, nay thuộc huyện Sóc Sơn, Hà Nội. Ngay từ nhỏ, bác đã học được ở cụ thân sinh Đỗ Văn Kiêm lòng say mê trồng trọt đủ loại cây cỏ vườn nhà. Năm lên sáu, bác bị ngã gẫy tay, được chữa khỏi nhờ cụ lang Lê Văn Sáp nổi tiếng chữa gẫy xương và nhiều bệnh khác chỉ bằng thuốc lá.

Vậy là cây cỏ ở quanh ta còn ẩn chứa nhiều điều bí mật. Cho nên khi thi vào đại học năm 1939, bác không chọn khoa Luật để ra làm quan như nhiều người mong tiến thân ngày ấy, cũng không chọn khoa Y để làm quan đốc tờ, bác chọn khoa Dược. Người chọn ngành này thật hiếm hoi! Năm bác tốt nghiệp chỉ có 6 dược sĩ cho toàn cõi Đông Dương.

Ngay khi còn là sinh viên, bác đã tìm đến cụ lang Lê Văn Sáp xin cụ cho đi thăm bệnh và đi sưu tầm cây thuốc. Nhờ đó, ngành Dược của ta may mắn có người mở đầu công việc kết hợp khoa học thực nghiệm với kinh nghiệm y học cổ truyền phương Đông. Bác là người phát ngôn sớm nhất quan niệm này trên Báo Dân Thanh ngày 31/10/1946. Vì vậy, ngay số báo sau đã có người phản bác lại, đó là nhà Đông y Lê Huy Phách. Chỉ sau đó hàng chục năm, ông này mới nhận ra sai lầm của mình, và đích thân đến xin được học, được cùng nghiên cứu với dược sĩ Đỗ Tất Lợi.

Những câu chuyện chữa bệnh kỳ lạ của y học cổ truyền thì nhiều, GS-TS Đỗ Tất Lợi có thể kể ngày này sang ngày khác mà không hết. Riêng tôi, nhớ nhất câu chuyện thú vị này:

Có một đơn vị bộ đội đóng ở Thủ Đức ngày đầu kháng chiến chống Pháp, ăn phải nấm độc, cả đơn vị bị ngộ độc, bất tỉnh. Mấy bác sĩ trong vùng đều chịu, không biết cách chữa. Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch đến thăm đơn vị đúng lúc ấy, ông vận dụng kiến thức học được từ Trường Đại học Y ở Paris, có lẽ một phần do thuốc men thiếu thốn vùng kháng chiến, nên ông cũng không chữa được.

Lúc đó, bà nông dân chủ nhà (chưa biết chữ) nói như đinh đóng cột: “Các chú không chữa được thì để tôi chữa cho”. Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch hỏi xem bà định chữa bằng cách nào. Bà bảo: “Miễn khỏi thì thôi, các chú không cần biết!”.

Bà đi ra sau nhà, nhóm bếp rang một thứ gì đó, độ 15-20 phút bà trở ra, rót từ chiếc bình tích lớn một thứ nước đổ vào miệng mỗi bệnh nhân một chén. Thật kỳ lạ! Chưa đầy 10 phút, cả đơn vị đều tỉnh lại và khoẻ khoắn như chưa từng ăn phải nấm độc.

Các bác sĩ gặng hỏi, bà chỉ mủm mỉm cười: “Tôi không nói, tôi nói ra thì các chú cho tôi… đi tù!”. Rồi đơn vị chuyển đi, việc quân bận rộn, mọi người yên trí bà muốn giữ riêng cho mình bài thuốc cổ truyền. Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch cũng yên trí như vậy suốt 20 năm.

Đến năm 1969, ông kể chuyện đó cho tôi nghe (lời GS Đỗ Tất Lợi). Tôi trả lời ông Thạch:

– Thưa anh, thang thuốc đó sách thuốc cổ của ta đã ghi!

– Anh thử dịch tôi xem!

“Tôi liền dịch ra và đánh máy 5 trang đặc chữ đưa ông xem. Trong đó có hàng chục thang khác nhau dùng phân người để chữa bệnh. Bà nông dân hẳn đã dùng cách này! Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch kinh ngạc liền chỉ định cho mấy dược sĩ nghiên cứu xem có chất gì trong phân có thể trị ngộ độc nấm. Hoá ra phân người thải ra potassium. Đem phân rang lên, trong tro của nó toàn potassium, pha vào nước có thể chữa được những cơn choáng như trường hợp ngộ độc nấm ở trên”.

Sau đó, bác sĩ Phạm Ngọc Thạch cho bào chế thứ thuốc này, bởi bộ đội thời đó hay hái nấm ăn, không tinh sẽ ăn phải nấm độc. Vì là thuốc chế từ thứ trong bụng người nên bác sĩ đặt tên cho là Nhân trung 9 (NT9). Có người muốn trêu ông thì gọi là Ngọc Thạch 9.

Câu chuyện trên thật đúng với câu danh ngôn: Thà được cứu sống một cách ngu ngốc còn hơn chết một cách thông minh.

Còn câu định nghĩa giản dị ngắn gọn này đã trở thành mục đích cả cuộc đời GS Đỗ Tất Lợi: Nghiên cứu y học cổ truyền là tìm ra những điều mà y học hiện đại chưa biết.

GS-TS Đỗ Tất Lợi có tới 120 công trình khoa học lớn nhỏ mà chỉ kể tên ra, không giải thích, đã choán hết độ dài của bài báo. Công trình đáng kể nhất, gây tiếng vang ra ngoài đất nước là bộ sách “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” dày trên 1.200 trang khổ lớn, bao gồm 750 loài cây thuốc, vị thuốc thuộc 164 họ, 77 vị thuốc động vật, 20 vị khoáng vật.

Bộ sách được tái bản nhiều lần, mỗi lần lại dày thêm những chương mới. Ví dụ tái bản lần thứ 7, bổ sung một chương về phân người, lần thứ 8 một chương về dùng nước bọt chữa bệnh… Ngoài những tên khoa học, dược tính, nơi sinh trưởng của cây thuốc… còn có hình chụp màu để độc giả bình thường có thể nhận ra không nhầm lẫn từng cây thuốc, lá thuốc.

Bàn về cây cỏ với tôi, GS nói một câu rất hay: “Hoa không chỉ quan trọng với trang thơ của các anh, với chúng tôi, nó là chứng minh thư của cây. Vì nhiều thứ cây, lá hao hao giống nhau. Nhưng đến khi có hoa là ta xác định ngay được tên gọi”.

Tôi thầm nghĩ: Cây cũng như các nhà thơ vậy, họ có thể giống nhau trong đời sống, nhưng đến khi ra hoa – thơ mà cũng giống nhau nữa thì không biết gọi họ là gì?

Nhân bàn về hoa, mùa xuân đem đến cho ta bao sắc màu kỳ diệu, nhưng ta chỉ biết hưởng chúng ở vẻ đẹp bên ngoài, nếu ta còn biết được như GS Đỗ Tất Lợi, giá trị chữa bệnh cứu người của chúng: Cây kim ngân mới ra hoa màu trắng, rồi chuyển dần sang vàng, có lúc lại từng mảng trắng xen vàng (kim và ngân mà!) thành thảm hoa thật đẹp! Đó là vị thuốc mát chữa được cảm sốt, mẩn ngứa, dị ứng. Hoa mẫu đơn là một thứ thuốc có tác dụng bổ máu.–PageBreak–

Cây sâm bố chính ở Thanh Hoá có những bông hoa to đỏ rực, hoặc cây trồng làm cảnh phổ biến ở nước ta là cây trúc đào, GS đã tìm cách chiết hoạt chất của cây này, qua nhiều lần thí nghiệm thất bại, cuối cùng ông đã chiết được chất neriolin là thuốc chữa bệnh tim đủ tiêu chuẩn cần thiết. GS Đặng Văn Chung đã dùng thử trên lâm sàng có kết quả…

GS Đỗ Tất Lợi không đồng ý dùng khái niệm thuốc Nam, thuốc Bắc như ta vẫn dùng lâu nay (thuốc Nam là lá mọc ở Việt Nam, thuốc Bắc là nhập của Trung Quốc). Ranh giới Nam – Bắc chỉ là tương đối. Thí dụ người Nga gọi thuốc của Trung Quốc là thuốc Nam (phía Nam của họ). Cây thuốc mọc ở vùng Vladivostoc mới là thuốc Bắc.

Do thiếu hiểu biết nên những cây dược liệu mọc ở Việt Nam (Lào Cai) như củ gấu tầu và hoàng liên đáng phải gọi là thuốc Nam. Nhưng Lào Cai đã xuất sang Trung Quốc. Sau đó, Hải Phòng lại nhập những vị thuốc ấy với cái tên Ô đầu và Bắc hoàng liên coi như thuốc Bắc. Hoặc có một số cây thuốc Bắc đã trồng được ở Việt Nam như sinh địa, thục địa thì nay gọi là gì? Theo ông, chỉ nên gọi là thuốc Bắc hay thuốc Nam khi được chế biến theo cách của Trung Quốc hay Việt Nam.

– Thưa bác, vấn đề truyền dạy kiến thức y học dân tộc và chữa bệnh theo phương pháp cổ truyền, bác có điều gì còn chưa hài lòng?

– Hiện nay, các trường đại học y dược của ta chưa có bộ môn (hoặc khoa) này để truyền dạy. Học trò của tôi có thể đếm trên đầu ngón tay. Ở Đại học Dược TP Hồ Chí Minh còn thỉnh thoảng mời tôi đến giảng ngoại khóa. Còn ngoài Hà Nội thì không… Y học cổ truyền thời xưa y và dược là một. Danh y Lý Thời Trân là tác giả cuốn dược liệu lớn nhất thế giới, khi đi chữa bệnh lại là ông lang Tần Hồ.

Còn tôi bây giờ mà đi chữa bệnh là sai luật vì không có giấy phép hành nghề. Trong khi đó, nếu người nghiên cứu tự đi chữa bệnh, nhiều khi phát hiện được tác dụng mới của thuốc. Thí dụ khi tôi dùng ích mẫu, ngải cứu chữa bệnh kinh nguyệt không đều thì tôi phát hiện ra đơn thuốc ấy làm hạ được huyết áp. Sau tôi chỉ dùng đơn thuốc ấy để hạ huyết áp thì tác dụng rất tốt.

Chính bác sĩ Phạm Ngọc Thạch thấy hiệu quả ấy đã ra lệnh nghiên cứu. Tiếc rằng nghiên cứu chưa xong thì bác sĩ Phạm Ngọc Thạch qua đời, không được nghe kết quả nghiên cứu. Hai nữa về vấn đề quy chế, thầy thuốc Đông y không được bảo vệ như bác sĩ Tây y. Trong những ca đặc biệt, bệnh nhân phải làm giấy cam đoan để khỏi rầy rà đến bác sĩ khi không may bị tử vong. Với các thầy lang thì đâu được thế!

– Thưa bác, ở tuổi 80 mà ở bác, tôi chưa thấy những dấu hiệu lão hoá. Vậy vấn đề dưỡng sinh và tự chữa bệnh của bác ra sao?

– Tôi chỉ nhờ Tây y mỗi việc mổ mắt, phải dùng đơn thuốc Tây, còn thì toàn dùng Đông y, không bao giờ uống kháng sinh, cảm sốt không bao giờ dùng aspirin. Chỉ cần thái nhỏ hành, hẹ, đập quả trứng gà rồi rót vào đó bát cháo loãng thật sôi, quấy đều cho vừa mắm muối là khỏi, nếu phải ăn sang bát thứ hai, thứ ba thì bớt lòng đỏ cho gan đỡ phải làm việc.

Giáo sư nhấn mạnh:

– Đặc biệt không để xảy ra stress. Khi bị stress, tôi dùng cách thở bốn thì (kiểu thở của ông Nguyễn Khắc Viện) để chấm dứt giận dữ hoặc buồn phiền. Anh có biết tác dụng của cỗ hậu sự các cụ sắm sẵn đặt trong nhà không? Một cách chống stress đấy! Chết còn không sợ thì còn sợ cái gì?

GS Đỗ Tất Lợi kết thúc buổi trò chuyện với tôi bằng một hồi ức vui:

– Tôi còn học thôi miên ở nhà văn Phạm Cao Củng nữa đấy! Tôi học và thu được hiệu quả: Anh Cát Huy Dương (sau là Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ Bộ Y tế) ở trọ nhà tôi. Tôi thôi miên cho anh ngủ, đưa anh muối bảo là đường, thế mà anh thấy ngọt mới lạ! Phương Đông mình còn nhiều điều bí ẩn phải nghiên cứu lắm. Tôi học thôi miên cho biết, không đi sâu được, mỗi người mỗi nghề…

Lần đến thăm hôm nay, GS không được khỏe, anh Đỗ Tất Hùng, con trai trưởng của cụ mời tôi ra gian ngoài trò chuyện. Hoá ra anh cũng từng viết nhiều bài báo về Đông y, ký tên Thái Hư hoặc Huyên Thảo.

Anh còn cho biết một điều thú vị: Gia tộc họ Đỗ, từ đầu thế kỷ trước đã hình thành một tập đoàn hoạt động kinh doanh liên ngành, mà tổ chức hoạt động sớm nhất là ngành xuất bản: ông Giáo Mai (ông Năm) là chủ NXB Mai Lĩnh, trong khi cậu cháu ruột Đỗ Tất Lợi mở hiệu thuốc Mai Lĩnh.

Các nhà văn Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng thường xuyên có mặt ở NXB. Nhà văn Ngô Tất Tố cũng là người bốc thuốc giỏi. Trong khi đó, ông Bẩy lại mở hiệu tạp hoá và nhà in Mai Lĩnh ở Hải Phòng, kiêm cơ sở phát hành báo chí. GS Đỗ Tất Lợi hồi nhỏ học ở Hải Phòng, sáng nào cũng phải đưa báo đến một số địa điểm rồi mới đến lớp học. Còn nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn hiện nay lại gọi GS Đỗ Tất Lợi bằng cậu ruột…

(Sưu tầm)