Những đối tượng nào được cấp Giấy chứng nhận là lương y?

SKĐS – Theo Thông tư này, căn cứ nội dung đã được học tập, bồi dưỡng được ghi trong giấy chứng nhận, xác nhận, chứng chỉ. kết quả kiểm tra sát hạch, nội dung và xác nhận quá trình thực tập, Bộ trưởng Bộ Y tế hoặc Giám đốc Sở Y tế tỉnh xác định phạm vi hoạt động chuyên môn cho từng trường hợp lương y theo quy định

Bộ trưởng Bộ Y tế vừa ký ban hành Thông tư số 29/2015/TT-BYT quy định cấp, cấp lại Giấy chứng nhậnlương y. Thông tư này gồm 4 chương, 22 điều, có hiệu lực thi hành từ ngày 26/11/2015

Thông tư quy định rõ đối tượng, điều kiện cấp giấy chứng nhận là lương y; Thẩm quyền, hồ sơ và thủ tục cấp, cấp lại giấy chứng nhận là lương y; Tổ chức kiểm tra, sát hạch trước khi cấp giấy chứng nhận là lương y

Đối tượng đề nghị cấp Giấy chứng nhận là lương y

Theo Thông tư, những đối tượng được đề nghị cấp Giấy chứng nhận là lương y bao gồm: Đối tượng đã được chuẩn hóa lương y có đủ các chứng chỉ học phần nhưng chưa được kiểm tra sát hạch theo Thông tư số 13/1999/TT-BYT ngày 06 tháng 7 năm 1999 của Bộ Y tế hướng dẫn thực hiện Pháp lệnh hành nghề y dược tư nhân thuộc lĩnh vực hành nghề y, dược cổ truyền trước ngày 30 tháng 6 năm 2004.

Đối tượng đã được Trung ương Hội Đông y Việt Nam cấp Giấy chứng nhận là lương y chuyên sâu trước ngày 30 tháng 6 năm 2004.

Đối tượng đã được Tịnh độ cư sỹ Phật hội Việt Nam bồi dưỡng và cấp Giấy chứng nhận đạt trình độ y sỹ cấp 2 trở lên (theo phân loại của Tịnh độ cư sỹ Phật hội Việt Nam) trước ngày 30 tháng 6 năm 2004.

Đối tượng đã được Sở Y tế tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện hành nghề y, y học cổ truyền, trang thiết bị y tế tư nhân có phạm vi hành nghề khám chữa bệnh bằng y học cổ truyền theo quy định tại Thông tư số 07/2007/TT-BYT ngày 25 tháng 5 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Y tế hướng dẫn về hành nghề y, y học cổ truyền và trang thiết bị y tế tư nhân nhưng không phải là bác sỹ, y sỹ y học cổ truyền và chưa được cấp Giấy chứng nhận là lương y.

Đối tượng đặc cách đã tham gia khám bệnh, chữa bệnh bằng y học cổ truyền từ đủ 30 năm trở lên.

Đối tượng có đủ các chứng chỉ học phần quy định tại Khoản 1 Điều 2 Thông tư này và đã đạt kết quả qua kỳ kiểm tra sát hạch cuối khóa chuẩn hóa lương y do Bộ Y tế tổ chức theo quy định tại Thông tư số 13/1999/TT-BYT nhưng chưa được cấp Giấy chứng nhận là lương y.

Hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận là lương y

Thông tư quy định, hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận là lương y gồm: Đơn đề nghị cấp Giấy chứng nhận là lương y theo mẫu quy định tại Phụ lục số 01 ban hành kèm theo Thông tư này; Sơ yếu lý lịch cá nhân có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn, nơi cư trú (trong thời gian không quá 06 tháng tính đến ngày nộp hồ sơ); 02 ảnh màu cỡ 4 x 6 cm chụp trên nền trắng (trong thời gian không quá 06 tháng tính đến ngày nộp hồ sơ); 02 phong bì có dán tem và ghi rõ họ tên, địa chỉ người nhận.

Đối với mỗi đối tượng quy định tại Điều 1 Thông tư này, ngoài hồ sơ quy định trên phải bổ sung thêm một số giấy tờ quy định cụ thể tại Điều 9 của Thông tư.

Khám chữa bệnh bằng y học cổ truyền đã và đang góp phần không nhỏ vào công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân

Khám chữa bệnh bằng y học cổ truyền đã và đang góp phần không nhỏ vào công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân

Ảnh minh hoạ

Hồ sơ và thủ tục cấp lại Giấy chứng nhận là lương y

Về hồ sơ cấp lại Giấy chứng nhận là lương y, Thông tư ghi rõ gồm: Đơn đề nghị cấp lại Giấy chứng nhận là lương y theo mẫu quy định tại Phụ lục số 07 ban hành kèm theo Thông tư này; 02 ảnh màu cỡ 4×6 cm chụp trên nền trắng (không quá 06 tháng tính đến ngày nộp hồ sơ); 02 phong bì có dán tem và ghi rõ họ tên, địa chỉ người nhận.

Thủ tục cấp lại Giấy chứng nhận là lương y như sau: Người đề nghị cấp lại Giấy chứng nhận là lương y gửi 01 bộ hồ sơ về Bộ Y tế (Cục quản lý Y, Dược cổ truyền) hoặc Sở Y tế tỉnh nơi đã cấp. Sau khi nhận được hồ sơ, bộ phận tiếp nhận hồ sơ gửi cho người nộp hồ sơ Phiếu tiếp nhận hồ sơ theo mẫu quy định tại Phụ lục số 04 ban hành kèm theo Thông tư này.

Trong thời gian 07 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị cấp lại Giấy chứng nhận là lương y hợp lệ (nếu không hợp lệ phải có văn bản yêu cầu bổ sung), Bộ trưởng Bộ Y tế hoặc Giám đốc Sở Y tế tỉnh cấp lại Giấy chứng nhận là lương y, nếu không cấp lại phải có văn bản trả lời nêu rõ lý do.

Phạm vi hoạt động chuyên môn như thế nào?

Theo Thông tư này, căn cứ nội dung đã được học tập, bồi dưỡng được ghi trong giấy chứng nhận, xác nhận, chứng chỉ, kết quả kiểm tra sát hạch, nội dung và xác nhận quá trình thực tập, Bộ trưởng Bộ Y tế hoặc Giám đốc Sở Y tế tỉnh xác định phạm vi hoạt động chuyên môn cho từng trường hợp theo quy định.

Các trường hợp do Tịnh độ cư sỹ Phật hội Việt Nam bồi dưỡng chuyên môn nếu đủ điều kiện công nhận là lương y thì phạm vi hoạt động chuyên môn là khám bệnh, chữa bệnh bằng thuốc nam hoặc các phương pháp chữa bệnh không dùng thuốc của y học cổ truyền hoặc cả hai phạm vi hoạt động chuyên môn trên.

Các đối tượng khác, nếu đủ điều kiện công nhận là lương y thì phạm vi hoạt động chuyên môn là khám bệnh, chữa bệnh bằng y học cổ truyền.

(Thái Bình – SKĐS)

Advertisements

Hơn 60.000 thầy thuốc đông y đang hoạt động không phép

anh6000luongy

Hiện có hơn 60.000/70.000 hội viên Hội Đông y Việt Nam chưa được cấp chứng chỉ hành nghề nhưng vẫn thực hiện việc khám bệnh, bốc thuốc và thực hiện các hoạt động dịch vụ chữa bệnh và bán thuốc đông y.

PV Báo Lao Động đã có cuộc trao đổi với ông Trần Văn Bản – Chủ tịch Hội Đông y Việt Nam.

 

Ông Trần Văn Bản cho biết:

– Hiện nay Hội Đông y Việt Nam có 70.000 hội viên hoạt động trên phạm vi cả nước. Tuy nhiên, chỉ có những thầy thuốc, bác sĩ đông y, và các y sĩ học ở các trường y học cổ truyền là có chứng chỉ hành nghề. Theo Luật Khám, chữa bệnh có hiệu lực từ 1.1.2011 thì phải có giấy chứng nhận là đông y rồi mới cấp phép hành nghề đông y. Tức là giấy chứng nhận đông y tương đương như một văn bằng y sĩ hoặc bác sĩ.

Vậy hiện nay cả nước có bao nhiêu người được cấp giấy chứng nhận là đông y thưa ông?

– Theo luật mới đương nhiên những người đã từng được cấp giấy phép hành nghề đông y trước đây (giấy phép có thời hạn 5 năm) đều trở thành không có giấy phép hoạt động vì họ chưa có giấy chứng nhận đông y. Trong 70.000 hội viên đông y cả nước hiện nay, chỉ có khoảng gần 10% hội viên có giấy chứng nhận đông y.

Thưa ông, vướng mắc hiện nay về việc cấp chứng chỉ hành nghề đông y là gì?

– Vướng mắc lớn nhất hiện nay là do Thông tư 41 của Bộ Y tế ban hành ngày 14.11.2011 về hướng dẫn cấp chứng chỉ hành nghề đối với người hành nghề và cấp giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh. Khi ban hành thông tư này “người ta” quên mất phần hướng dẫn dành cho đông y mà chỉ dành cho các bác sĩ, y sĩ.

Theo ông, vì sao thông tư này lại khó ban hành như vậy?

– Lý do là hiện nay quan điểm của các cục, vụ trong Bộ Y tế chưa thống nhất, mỗi nơi một quan điểm khác nhau. Bây giờ họ cứ áp quy định của tây y sang đông y là không được, bởi vì đông y là “cha truyền, con nối”, tự học, tự nghiên cứu sách, ngày xưa người ta nói “quá nho, thành y”.

Việc hoạt động không phép hiện nay là thuộc về trách nhiệm của Bộ Y tế. Thế còn người có tay nghề, dân người ta có yêu cầu chữa bệnh thì người ta vẫn hành nghề như trước.

Để giải quyết vấn đề hơn 60.000 đông y đang hoạt động mà chưa được cấp giấy phép hành nghề?

– Chỉ biết chờ thông tư của Bộ Y tế về chuẩn hóa tiêu chuẩn cấp chứng chỉ hành nghề đối với lương y thôi.

– Xin cảm ơn ông!

(Nguồn: Lao Động)

Ngừng đào tạo hệ trung cấp y, hướng nào cho các thầy thuốc dân gian?

Thời gian gần đây, các phương tiện thông tin đại chúng có đưa tin. Theo chủ trương định hướng tương lai của Bộ Y tế, đến năm 2021 các bệnh viện, cơ sở y tế toàn quốc sẽ ngừng tuyển nhân viên y tế hệ trung cấp. Và từ năm 2018 sẽ ngừng tuyển sinh và đào tạo hệ trung cấp y.

 

Theo thông tin này, được biết đây là một trong những bước đi nhằm hội nhập về trình độ nhân lực y khoa giữa Việt Nam và các nước ASEAN. Hiện nay, cán bộ y tế ở các nước ASEAN đều đạt trình độ từ Cao đẳng trở lên.

Chủ trương chuẩn hóa đội ngũ nhân viên y tế trong các bệnh viện công lập trình độ từ Cao đẳng trở lên là điều phù hợp nhằm đảm bảo chất lượng phục vụ khám chữa bệnh của nhân dân. Trước khi chủ trương này hoàn thành thì các trường Trung cấp Y có thể nâng cấp lên Cao đẳng và đào tạo liên thông cho các sinh viên đã và đang học cho phù hợp với giai đoạn phát triển mới.

 

Nhưng còn một mảng y học quan trọng mà Bộ Y tế cần lưu ý trong chủ trương này thì chưa ghi rõ cụ thể là Y học cổ truyền ngoài công lập.

Nếu tuyển một nhân viên Y tế ngành y học cổ truyền vào bệnh viện công lập thì chủ trương trên của Bộ Y tế hoàn toàn phù hợp. Nhưng nếu quyết định ngừng tuyển sinh hệ trung cấp y (trong đó có Y học cổ truyền) thì sẽ xuất hiện nhiều vấn đề không phù hợp. Vì nhiều đối tượng đi học hệ này không hề có mục đích vào làm tại các cơ sở Y tế công lập.

sudihojc

Một buổi học của các học viên Đông y tại trường Trung cấp Y – dược Lê Hữu Trác. (nguồn ảnh: Trường TC Y-Dược Lê Hữu Trác).

Như chúng ta đã biết, Việt Nam và các nước trong khu vực có một nền Y học cổ truyền hay còn gọi là Y học dân gian rất phát triển, và đã có lịch sử hàng nghìn năm. Trong khi đó Tây y mới chỉ phát triển trong vòng vài trăm năm nay. Trên toàn đất nước Việt Nam, vẫn có hàng trăm nghìn lương y hành nghề chữa bệnh từ vùng sâu xa như các ông lang, bà mế… đến vùng nông thôn và thành phố tại các Hội chữ Thập đỏ, tổ chức từ thiện phi chính phù, nhà chùa, nhà thờ…

Sự đóng góp của các lương y, các bài thuốc Nam gia truyền và dân gian trong việc chữa bệnh cho nhân dân, đặc biệt là người nghèo trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm và bây giờ là điều không thể phủ nhận.

Để chuẩn hóa về việc hành nghề của các Thầy thuốc dân gian, Bộ Y tế đã có thông tư 41 về việc cấp chứng chỉ hành nghề cho đội ngũ thầy thuốc dân gian (tức lương y hành nghề Y học cổ truyền). Thông tư này quy định các lương y muốn hành nghề y học cổ truyền tư nhân phải được đào tạo ít nhất trình độ Trung cấp trở lên, sau đó cần phải có kinh nghiệm ít nhất 1 năm thực hành tại cơ sở y tế và có giấy xác nhận thực hành.

Chính vì quy định này, rất nhiều lương y xuất thân từ gia đình có nghề Đông y gia truyền đã phải đi học từ đầu để chuẩn hóa, trong đó nhiều người đã trên 60, 70 tuổi và đã từng có một bằng tốt nghiệp Đại học ngành khác và đã làm trong các cơ quan Nhà nước. Đa số họ vẫn làm công việc ở cơ quan và ngoài giờ thì phải duy trì nghề gia truyền. Một số người thì chỉ khi nào về hưu mới có điều kiện tập trung toàn thời gian cho việc chữa bệnh theo nghề y gia đình. Một số gia đình có điều kiện thì con cái họ sẽ theo nghiệp y ngay từ đầu và học Đại học y rồi làm trong các bệnh viện công hoặc về gia đình làm.

Những lương y vốn là cán bộ làm cơ quan Nhà nước nhiều năm, sau khi nghỉ hưu thì mới có thời gian đi học 2 năm hệ Trung cấp Y sĩ Y học cổ truyền. Họ đi học cùng với thế hệ học sinh chỉ đáng tuổi con cháu của mình và họ vẫn rất chăm chỉ học từ các môn Tin học cho đến ngoại ngữ, y học hiện đại…

Ngoài ra còn nhiều người đi học vốn là các nhà tu hành tại các Chùa, các nhà thờ… có hoạt động khám từ thiện cho nhân dân. Họ cũng cố gắng dành thời gian và tiền bạc để đi học hệ Trung cấp y học cổ truyền.

Nhưng chưa dừng ở đó, để được phép hành nghề thì họ còn phải mất ít nhất 12 tháng làm việc không lương tại một cơ sở y tế (Bệnh viện có giường) của Nhà nước hoặc Tư nhân và đóng một khoản lệ phí thực hành theo quy định của từng nơi: có thể là từ 600 nghìn đồng cho đến 2 triệu đồng/ tháng. Sau quá trình thực hành, bệnh viện sẽ cấp cho họ một cái giấy xác nhận thực hành, với giấy xác nhận thực hành đó cùng các giấy tờ liên quan như bằng cấp… nộp lên Sở Y tế thì họ mới được cấp “Chứng chỉ hành nghề” để được phép hành nghề Y học cổ truyền tại nhà hoặc cơ sở khám bệnh từ thiện…

Như vậy, để có được quyền hành nghề Đông y, các thầy thuốc dân gian phải bỏ tiền đi học và mất thời gian khoảng 3 năm (2 năm học tại trường Trung cấp y, 1 năm thực hành tại Viện) kèm theo khoảng 1 đến 2 tháng thời gian thẩm định hồ sơ mới được phép hành nghề.

 

Nếu với định hướng của Bộ Y tế sắp tới, năm 2018 sẽ ngừng tuyển sinh hệ Trung cấp Y. Vậy, những trường hợp thầy thuốc dân gian sẽ giải quyết thế nào cho hợp lý? Điều này chưa thấy đề cập cụ thể tại định hướng tới của Bộ Y tế. Nếu chấm dứt hoạt động của các Trường trung cấp Y học cổ truyền. Hướng tương lai cấp chứng chỉ hành nghề cho các thầy thuốc dân gian sẽ như thế nào? Không nhẽ lại bắt các lương y tuổi toàn trên 50 phải đi học trình độ Cao đẳng Y học cổ truyền trở lên mới được hành nghề? Nếu đúng theo quy định thì hệ Cao đẳng khoảng 4 năm? Hệ Đại học là 6 năm? Hơn nữa điều này đang làm ảnh hưởng rất nhiều đến các hoạt động của các trường Trung cấp y khi chưa rõ định hướng cụ thể của Bộ y tế với ngành Trung cấp Y học cổ truyền.

Đó chính là điều mà Bộ Y tế cần cân nhắc và có quyết định phù hợp với điều kiện hiện nay của nền Y học cổ truyền tại Việt Nam.

 

Để thay cho lời kết, tôi xin đưa trích lên đây vài thắc mắc của Bác sĩ CKII, Chủ tịch HĐQT, Hiệu trưởng Trường Trung Cấp Y dược Lê Hữu Trác như sau:

 

“Vì Ngành, vì sự nghiệp chăm sóc sức khỏe nhân dân và vì học sinh của các Trường Trung cấp Y Dược cả nước cũng như các trường TCY Dược ở Hà Nội và Trường TC Y Dược Lê Hữu trác tôi  xin đề nghị các Nội dung sau:

 

1. Đề nghị Bộ Y tế và Bộ Giáo dục – Đào tạo hướng dẫn rõ ràng cụ thể NHỮNG NGÀNH NÀO THỰC HIỆN THEO THÔNG TƯ?
Các ngành Y sĩ, Y sĩ Y học cổ truyền và Dược sĩ Y học cổ truyền có phải thực hiện không?
Nếu không thì theo hệ thống nào?
2. Đề nghị hai Bộ hướng dẫn các Trường thực hiện theo Lộ trình?
3. Hiện nay các Trường đều có khả năng Đào tạo Cao đẳng: đầy đủ chương trình và đội ngũ giảng viên, trang thiết bị.
Đề nghị hai Bộ Thẩm định và cho phép các Trường đủ điều kiện được Đào tạo thêm 1 năm nữa để các học sinh đã Bằng Trung cấp của Nhà trường đang là nhân viên Y tế có trình độ Tương đương Cao Đẳng theo quy chuẩn.
4. Các Trường có đủ điều kiện để đào tạo Cao đẳng, nhưng đang thiếu Diện tích Đất.
Đề nghị hai Bộ có thể châm trước cho điều kiện đất đai cho phép các Trường được nâng cấp thành Trường Cao đẳng.
Nếu không được từng Trường thì hai Bộ cho các Trường Hợp nhất để đào tạo Cao đẳng.
5. Kính đề nghị Sở Giáo dục và Đào tạo, Bộ Y tế, Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức cuộc Hội thảo: bàn đến giải pháp cụ thể phù hợp với điều kiện hiện tại của các Trường, để các Trường tìm được hướng đi cho mình tránh được nguy cơ tiêu cực không đáng có của các trường Trung cấp Y Dược Hà Nội.”

 

(Thực hiện: Thế Quân)

 

Nữ y tá cứu người dẫn chương trình thoát chết kịp thời nhờ… xem ti-vi

phongvienbuouco

Anh Tarek El Moussa.

Nữ y tá Mỹ khi xem ti-vi thì phát hiện cổ của người dẫn chương trình có dấu hiệu khác thường. Vì vậy, cô đã gửi một lá thư đến tổ sản xuất chương trình. Người này lập tức đi khám, kết quả là bị ung thư tuyến giáp và được phẫu thuật kịp thời. Một chuyện cứu người khá hy hữu.

Anh Tarek El Moussa, người dẫn chương trình “Flip or Flop” của kênh truyền hình HGTV của Hoa Kỳ cho biết, người thân và những người xung quanh anh đều không cảm thấy ở anh có bộ phận nào khác thường.

Mãi cho đến một ngày vào năm 2013, tổ làm chương trình của anh đã nhận được một lá thư từ khán giả gửi đến. Trong thư, người viết tự giới thiệu mình tên là Ryan R. N, và là một y tá. Cô R. N nói rằng dựa vào kinh nghiệm phán đoán của mình, tuyến giáp của anh Moussa nhất định có vấn đề, nhưng cô không thể đưa rất bất kỳ kết luận nào, mà chỉ hy vọng anh hãy đến ngay bệnh viện để kiểm tra.

Lúc ấy, anh Moussa, 32 tuổi, nhận được lá thư này đã lập tức tới bệnh viện kiểm tra, và được bác sĩ kết luận bị ung thư tuyến giáp. Các bác sĩ đã đề nghị anh phẫu thuật ngay lập tức để cứu tính mạng của mình.

giaoluuyta

Ạnh Moussa cùng vợ và nữ y tá Ryan R.N (bên phải) trong một chương trình truyền hình sau khi anh đã phẫu thuật thành công.

Sau khi trải qua quá trình điều trị, anh Moussa đã bình phục. Anh gửi lời cảm ơn tới nữ y tá Ryan R.N trên truyền hình. Vì để phổ cập cho mọi người về cách phát hiện và đề phòng ung thư, chương trình truyền hình “The Drs” đã mời vợ chồng anh Moussa và nữ y tá Ryan tới nói chuyện, và trao đổi chia sẻ kinh nghiệm của mình.

(Theo daikynguyenvn)

Việc học hộ của sinh viên thời nay

Nghe đến cụm từ “học hộ” thì có lẽ nhiều người nghe hơi lạ. Việc thi hộ, làm hộ, ăn hộ… thì chắc đã từng nói nhưng học hộ thì quả là thật là kỳ khôi. Ngày xưa tôi đã từng nghe nói cô giáo tiểu học có dạy bài giảng đạo đức trên lớp rằng “người ta có thể thi hộ, ăn hộ, làm hộ được, nhưng học hộ thì không ai học hộ được”. Nếu xét về phạm trù kiến thức thì đúng là không ai học hộ kiến thức cho ai được, vì kiến thức là trừu tượng. Nhưng thời nay, với tình trạng coi bằng cấp là thước đo của kiến thức thì học hộ lại có thể làm được.
Với vai một sinh viên đi thực tập năm cuối tại một bệnh viện đa khoa tại Hà Nội, tôi tiếp xúc với một nữ sinh trung cấp đang thực tập điều dưỡng tại khoa chấn thương chỉnh hình của viện đó. Trong thời gian trực, khi các bệnh nhân đã ngủ ngon giấc và những người trực thì phải thức để canh cho bệnh nhân tôi được nghe câu chuyện của nữ sinh về việc học hộ thời nay.
Trước mặt tôi là một cô gái tên là D. với nước da hơi ngăm đen, cô sinh ra tại một miền quê nghèo khổ miền trung Việt Nam. Với nhan sắc không có gì đặc biệt, với cảm nhận của tôi thì những cô gái ngành kỹ thuật hay y học thì nếu nhan sắc mà xinh đẹp thì thường làm việc kém hiệu quả hơn những cô gái mộc mạc và không ưa trang điểm nhiều. Trong quá tình thực tập, cô rất nhanh nhẹn và tháo vát, các thủ thuật làm rất khá và không ngại khó khăn. Thoạt đầu, tôi cứ nghĩ cô là sinh viên trường y thứ thiệt. Nhưng sau vài buổi quen biết, cô mới tâm sự và tôi mới vỡ lẽ ra là cô chỉ là một sinh viên đi thực tập hộ cho người khác mà thôi.
Cô gái tâm sự: “bây giờ nhiều sinh viên nhà có tiền hay thuê người học hộ lắm anh ạ. Bố mẹ họ cho họ tiền để đi học lấy kiến thức, nhưng thay vì đi học, họ lại đi chơi hay đi đâu đó em cũng không rõ. Chỉ biết rằng, họ cần người học hộ và thực tập hộ. Họ trả tiền khoảng 200 nghìn đến 300 nghìn/ngày. Với bọn em, thì đó là khoản tiền không nhỏ.”
Cô nói tiếp: “Thực ra bọn em cũng là sinh viên y như họ. Em cũng học ở một trường Trung cấp y khác nhưng do bạn bè giới thiệu nên học thêm một trường này nữa và coi như sinh viên thật. Chỉ khác một điều là em không mất tiền mà lại được tiền. Họ cần người học hộ, còn em thì cần tiền. Vả lại, học miễn phí thì còn gì bằng. Vừa kiến thức tốt, vừa chắc tay nghề. Hiện nay em tốt nghiệp rồi, nhưng chưa xin được việc làm, vì thế mà 2 năm nay em vẫn học hộ cho sinh viên các trường trung cấp y và em có tay nghề khá tốt. Có thể làm mọi thủ thuật của điều dưỡng một cách thành thạo, lại còn có tiền chi tiêu và gửi về nhà giúp đỡ gia đình. Khi nào em xin được việc thì sẽ tính sau vậy.”
Tôi bèn hỏi: “thế em có nghĩ rằng mình đang tiếp tay cho hành động gian dối của các bạn sinh viên kia không?”. Cô gái trả lời: “thực ra thì em cũng biết như thế là không được cho lắm. Nhưng vấn đề là em không có thi hộ cho ai bao giờ, vì như thế vi phạm pháp luật. Nhưng em thì có nhu cầu học và hành được tốt. Còn người ta thì cần người làm hộ và lại cho em tiền nữa. Vậy thì em nghĩ cũng tốt chứ không sao. Còn chưa kể có bạn còn thuê em học thêm ngoại ngữ ở lớp tiếng Anh buổi tối nữa. Em cũng thích lắm, nhưng vì trùng giờ với đợt thực tập phải trực đêm ở viện mà em đành chịu. Nhưng cũng có vài bạn khác cũng như em lại học thay.”
Còn với H. là một sinh viên ở quê lên Hà Nội học được 2 năm. Qua các mối quen biết và bạn bè thì cô cũng có mối để đi học hộ ngoại ngữ cho một số sinh viên khác ở các trường. Cô có niềm ham mê ngoại ngữ và đã biết tiếng Anh khá tốt. Nhưng do ham thích nên cô cũng nhận lời đi học hộ thêm cho các bạn khác ở các trung tâm ngoại ngữ hoặc ở các giờ ngoại ngữ ở lớp trong trường của họ. Hiện nay, với thời gian 4 năm học tại trường và 2 năm học hộ thêm 2 ngoại ngữ khác là Trung văn và Pháp văn thì có lẽ ít sinh viên ngoại ngữ nào bì kịp.
Câu chuyện của 2 sinh viên 2 trường khác nhau trên chỉ là một vài điển hình cho hiện thực học hộ hiện nay. Chỉ cần kích chuột vào google và đánh từ “học hộ” thì sẽ có rất nhiều quảng cáo học hộ khác tương tự. Những điều này làm tôi suy nghĩ: xã hội sau này sẽ ra sao? Có những người trông rất tầm thường nhưng có lẽ họ có kiến thức thực sự và làm được việc rất hiệu quả. Còn có những người mũ cao áo dài, với một đống bằng cấp chứng chỉ nhưng có lẽ kiến thức sẽ không phải là như vậy. Không hiểu các sinh viên có điều kiện ăn học và bố mẹ nuôi như vậy suy nghĩ ra sao mà lại để lãng phí tuổi thanh xuân và tiền bạc của gia đình để lên thành phố vô ích như vậy? Học thì không học mà lại phải đi thuê người khác học cho mình. Sách Tam tự kinh ngày xưa các cụ có câu: “Ấu bất học, Lão hà vi? Trẻ chẳng học, Già làm gì?” Có lẽ sau này, khi họ đã qua tuổi trẻ, họ sẽ ân hận vì thời trẻ đã làm những việc như thế này. Hy vọng những sinh viên nào còn có thái độ học đối phó và mất tiền của cha mẹ khi đọc bài này hãy suy nghĩ lại hành động của mình để khỏi uổng công của các bậc sinh thành. Qua việc này mới thấy tại sao các công ty nước ngoài ở Việt Nam hiện nay họ tuyển người hoàn toàn qua công việc thực tế. Họ kiểm tra người tham gia tuyển dụng làm trực tiếp việc, nếu được thì nhận, còn nếu không làm được thì không tuyển. Văn bằng với họ chỉ là thủ tục mà không phải là thước đo khi tuyển dụng. Hy vọng các cơ quan và công ty Việt Nam cũng sẽ học tập cách tuyển dụng công bằng đó như những doanh nghiệp nước ngoài đã từng làm.

(PV)

Kho báu giữa đại ngàn

Việt Nam được đánh giá là nước có nguồn tài nguyên sinh vật đa dạng và phong phú, trong đó có tài nguyên cây thuốc. Theo các nhà thực vật phân loại, ở Việt Nam có khoảng 12.000 loài thực vật bậc cao, trong đó 3.948 loài được dùng làm thuốc (Viện dược liệu, 2007), chiếm khoảng 37% số loài đã biết. Nếu so với khoảng 20.000 loài cây làm thuốc đã biết trên thế giới (IUCN, 1992) thì số loài cây thuốc ở Việt Nam chiếm khoảng 19%. Đó là chưa kể đến những cây thuốc gia truyền của 54 dân tộc thiểu số ở Việt Nam mà cho đến nay chúng ta mới chỉ biết được một phần. Phát triển cây thuốc là một ưu thế lớn góp phần nâng cao đời sống và từng bước xóa đói, giảm nghèo cho người dân, nhất là cộng đồng các dân tộc sống ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, nơi mà cuộc sống của họ đang gặp nhiều khó khăn.

Từ ông “Chủ tịch thầy thuốc”

Giữa đại ngàn Trường Sơn, một người đàn ông dân tộc Cơ Tu dành gần nửa cuộc đời để phục vụ đồng bào, khi về hưu, ông dành những ngày còn lại của cuộc đời tiếp tục phục vụ bà con. Ông là Bhiríu Pố, nguyên chủ tịch xã Lăng, huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam.

Vượt gần 150km đèo dốc quanh co để đến xã Lăng , rồi từ đó lội qua 5 con suối, băng qua mấy vạt đồi, chúng tôi mới gặp được già Bh’riu Pố. Người đàn ông này được mệnh danh “ông vua ba kích” của núi rừng Tây Giang.

Khi còn làm Chủ tịch xã, Bh’riu Pố được bà con gọi là “ông chủ tịch thầy thuốc” vì đã chữa khỏi bệnh cho nhiều người. Già Pố kể, ngày ấy, rừng núi cách trở, khi có người bị bệnh không thể đưa đi bệnh xá kịp nên nhiều người chết chỉ vì những bệnh thông thường như tiêu chảy, rắn cắn… Và khi đứa con trai duy nhất của ông bị bệnh qua đời, ông quyết tâm phải làm thầy thuốc để cứu chữa cho dân làng. Bh’riu Pố trở thành “bác sĩ bất đắc dĩ”. Ông khoe với chúng tôi hai cuốn “bí kíp” dày cộm về “Hướng dẫn sử dụng cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” và “Hướng dẫn chữa bệnh bằng thuốc Tây”. Ông bảo: “Hồi đó, già phải đổi 2 chỉ vàng để được sở hữu những cuốn sách quý này. Nhờ nó, mà già chữa khỏi bệnh cho nhiều người, đặc biệt là chữa rắn cắn”.

Đến ông “Vua” ba kích giữa đại ngàn

Sau ngày về hưu, ông đã trồng thành công cây ba kích và đó cũng là hướng để giúp đồng bào xóa nghèo. Bh’riu Pố kể, năm 2006, có đoàn cán bộ nghiên cứu về các loại thuốc trên cánh rừng Tây Giang tình cờ phát hiện ra cây ba kích – một loại thuốc quý, có giá trị kinh tế cao và chỉ mọc ở một số ít vùng núi râm mát.

Lúc bấy giờ, suốt nhiều đêm, già Pố tự hỏi mình “tại sao không trồng cây ba kích để làm kinh tế”. Nghĩ là làm, ít lâu sau, ông vác rựa lên rừng tìm cây ba kích để lấy giống về trồng. Lúc đầu, người làng và cả vợ ông đều cho ông là “khùng”. Nhiều người bảo: “Đây là cây của Giàng, ông đừng trồng, nó không cho quả và củ đâu”. Thế nhưng, Bh’riu Pố vẫn quyết tâm lên rừng mang hạt cây ba kích về trồng. Sau một thời gian gieo hạt, những chồi xanh nảy mầm và phát triển tốt. Chỉ thời gian ngắn, ông trồng được vài trăm cây. Ông phát hiện ra một điều: cây ba kích có thể trồng bằng cách giâm thân cành. “Một buổi trưa, già ngồi trước cây ba kích để nghiên cứu. Mình thấy cây ba kích hễ thân bò đến đâu thì rễ phát triển và cho củ đến đó. Thế là già chiết một cây thành nhiều đoạn để về trồng. Nếu gieo hạt thì cây ba năm mới cho củ, còn trồng theo cách giâm thân cành thì chỉ cần một năm là cho củ” – Bh’riu Pố tâm sự.

Đến cuối năm 2009, Bh’riu Pố đã trồng được 6 nghìn cây ba kích trên diện tích hơn một héc ta, già Pố nhẩm tính: “Mỗi bụi cây bình thường cho từ 4 đến 5 ký củ, có bụi nặng đến 10 ký. Tính ra mỗi bụi bán được hơn một triệu đồng. Khi trồng thành công cây ba kích, Bh’riu Pố bắt đầu hướng dẫn cho hơn 30 hộ gia đình ở xã Lăng kỹ thuật trồng.

“Bh’riu Pố là người có công lớn trong nhân giống ba kích và trong công tác xóa đói, giảm nghèo ở địa phương. Ông đã giúp đỡ bà con kỹ thuật chiết giống và nuôi dưỡng cây ba kích. Đây không chỉ là cây dược liệu quý mà con là “cây xóa đói giảm nghèo” cho địa phương. UBND huyện cũng vừa cấp giống cho bà con xã Lăng trồng để chuyển đổi cơ cấu cây trồng. Tính đến nay, cả xã Lăng đã có được hơn 6 hec-ta rừng ba kích”.

“Lên núi hái tiền”

Theo Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển cây thuốc dân tộc cổ truyền (CREDEP), đến nay, nhiều địa phương trong nước ta đã có truyền thống trồng cây thuốc, như quế (ở Yên Bái, Thanh Hóa, Quảng Nam, Quảng Ngãi…), hồi (ở Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Giang, Lai Châu), hòe (ở Thái Bình)… Những thống kê trên cho thấy việc phát triển trồng cây thuốc ở nước ta có nhiều tiềm năng và cho hiệu quả kinh tế cao. Cần giúp cho người dân biết cách chuyển đổi cơ cấu cây trồng, kết hợp trồng rừng với trồng cây thuốc ở những nơi có khí hậu và đất đai phù hợp, để nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống, góp phần tích cực trong việc xóa đói, giảm nghèo cho người dân ở vùng núi.

Lương y Nguyễn Thiện Chung là thầy thuốc đầu tiên ở vùng Bảy Núi (An Giang) kinh doanh bằng nghề trồng thuốc núi. Hiệu quả của một công đất trồng thuốc núi gấp 2 đến 5 lần so với trồng lúa, làm vườn. Ông là Chủ tịch Hội Đông y huyện Tịnh Biên (An Giang). Ông cho biết mấy năm trước các cây thuốc núi như bí kỳ nam, hoằng đương, sa nhân, ngải móng trâu, bạc thao đá… mọc khắp nơi trên vùng Bảy Núi, nay thì gần như tuyệt chủng. Thuốc núi trồng không nặng công chăm sóc, ít tốn tiền phân bón, theo ông, các loại cây thuốc dạng cây leo như bí kỳ nam giá 55.000 đồng/kg, bạch thao đá 80.000 đồng/kg, đều bán rất chạy. 1 công đất trồng đinh lăng sau một mùa thu lợi nhuận 15 triệu đồng. Như vậy 1 công trồng nam xuyên khung cho lợi nhuận bằng 2-5 công đất lúa. Còn ngải đen trị đau bụng, nhức mỏi nhà vườn bán 25.000 – 30.000 đồng/kg, các tiệm thuốc lớn thì bán 30.000 – 50.000 đồng/kg, nếu so với trồng gừng thì thu hoạch cao gấp 3 lần.

Sấy thảo quả tại Ý Ty - Lào Cai. Ảnh: PV

Sấy thảo quả tại Ý Ty – Lào Cai. Ảnh: PV

Từ trung tâm thành phố Lào Cai lên năm xã phía tây huyện biên giới Bát Xát, “vựa” thảo quả của tỉnh Lào Cai, thuộc diện khó đi nhất, bởi vừa dốc cao vừa chi chít các loại ổ voi, ổ trâu, ổ gà… Xã Ý Tý nằm ở độ cao hơn 2.000 m so với mực nước biển, quanh năm mây mù gió rét, mùa đông thường có mưa đá, băng tuyết. Do cấu tạo địa hình và khí hậu, trong khi cả huyện Bát Xát gồm 23 xã, thị trấn thì có đến một nửa số đó thường bị khô khát, thiếu nước, nhưng riêng Ý Tý vào mùa mưa thì mịt mù, trắng trời cả tuần, có khi nửa tháng… Ý Tý được mệnh danh là “túi mưa” của huyện vùng cao Bát Xát, với lượng mưa trung bình năm hơn 2.000 mm. Nhưng chính sự khắc nghiệt của thiên nhiên đã tạo cho Ý Tý bao điều kỳ thú, mà nổi tiếng là “rừng treo nguyên sinh” và “kho tiền giữa đại ngàn”, với những nghệ nhân người Hà Nhì, người Dao hết mực yêu quý rừng, rất giỏi mở ruộng bậc thang và trồng thảo quả, đang làm đổi thay diện mạo nông thôn vùng cao nơi đây.

Theo “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” (GS-TS Đỗ Tất Lợi), cây ba kích còn gọi khác là: Ba kích thiên, cây ruột gà, chẩu phóng xì, ba kích nhục…; Nước sắc ba kích có tác dụng làm tăng sự co bóp của ruột và giảm huyết áp, không có độc. Theo tài liệu cổ, ba kích có vị cay ngọt, tính hơi ôn; có tác dụng ôn thận trợ dương, mạnh gân cốt khử phong thấp. Dùng chữa dương ủy, phong thấp cước khí, gân cốt yếu, mềm, lưng yếu mỏi đau. Người âm hư, hỏa thịnh, đại tiện táo bón cấm dùng. Trong nhân dân, ba kích là một vị thuốc bổ trí não và tinh khí, dùng trong các bệnh liệt dương, xuất tinh sớm, di mộng tinh, phụ nữ kinh nguyệt không đều…

Vợ chồng Lý A Páo, ở thôn Khu Chu Lìn, xã Sảng Ma Sáo mang theo gạo, thực phẩm, nồi niêu… dựng lán trại ngay giữa rừng già Ý Tý để thu hái và sấy quả khô. Thu hoạch muộn khoảng một tháng thời tiết rét hơn nên phải làm khẩn trương, nhưng bù lại năng suất tăng thêm 25 – 30%, do thảo quả già, chắc hạt. Vốc một nắm thảo quả đã sấy khô trên tay, hương thơm sực nức, Páo bảo: “Năm nay giá bán tăng hơn năm ngoái 12 nghìn đồng, được 80 – 85 nghìn đồng/kg, một kg thảo quả bằng 10 kg thóc tốt đấy”. Chỉ tay vào bụi thảo quả Páo nói: “Người Dao mình coi nó là cây bạc, cây vàng, trên rừng này không có cây nào so được đâu.

Chủ tịch xã Sảng Ma Sáo – Lý A Dua cho biết: Mỗi ngày, riêng khu rừng treo Ý Tý này “hiến tặng” cho người dân nơi đây hàng trăm triệu đồng. Phó Chủ tịch UBND huyện Bát Xát Nguyễn Đức Ca cho biết, cả tỉnh Lào Cai có 5.700 hec-ta thảo quả thì riêng huyện Bát Xát chiếm 2.650 ha, trong đó năm xã: Mường Hum, Dền Sáng, Sảng Ma Sáo, Trung Lèng Hồ và Ý Tý được coi là “vương quốc” của loài thảo dược quý này. Hằng năm, Bát Xát xuất khẩu khoảng 700 tấn thảo quả khô, thu về chừng 50 tỷ đồng. Nhờ có thảo quả, người dân vùng cao đã xóa được nghèo và làm giàu. Mỗi năm, Bát Xát có khoảng 200 – 300 hộ thoát nghèo thì rất nhiều trong số đó là nhờ trồng thảo quả.

Phát triển thảo quả gắn với bảo vệ rừng đầu nguồn

Đặc tính tự nhiên của cây thảo quả là sống dưới tán rừng già, từ độ cao 800 m trở lên, với ánh sáng yếu, đây phần lớn là rừng phòng hộ đầu nguồn của các sông, suối ở Lào Cai. Để thảo quả phát triển, người trồng thảo quả phải phát dọn những cây nhỏ, chỉ để những cây to, tán rộng làm tán che cho cây thảo quả. Nếu để cây rậm quá, thiếu ánh nắng mặt trời cây thảo quả sẽ không phát triển được, nếu nắng quá thì cây cũng bị chết. Từ đó người trồng thảo quả phải dọn cây rừng rất sạch, trong diện tích rừng trồng thảo quả các cây mọc tự nhiên không có thế hệ nối tiếp, khi những cây to già cỗi đến lúc gãy đổ, thì diện tích cây đó che bóng trở thành đất trống đồi núi trọc. Mặt tích cực của trồng thảo quả là đã mang lại lợi ích lớn cho người dân, những khu rừng trồng thảo quả được người dân bảo vệ rất tốt.

Nếu ta biết sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên, khai thác thế mạnh của miền núi, vận dụng khoa học kỹ thuật để canh tác hợp lý, trong đó có việc trồng cây thuốc thành hàng hóa, thì chắc chắn những sản phẩm này không chỉ góp phần vào công cuộc xóa đói, giảm nghèo ở nước ta mà nó còn làm cho con người có cuộc sống tươi đẹp và hạnh phúc hơn.

(SKĐS – Vũ Bạch Dương)

Chất nhuộm độc hại có trong vị thuốc đông y

Rhodamine B là một loại chất hoá học dùng để nhuộm quần áo, cấm tuyệt đối trong thực phẩm và thuốc vì rất độc hại cho cơ thể, nhưng chất này lại vừa được tìm thấy trong nhiều mẫu Chi tử (một vị thuốc đông y khá phổ biến).

Trong đợt lấy mẫu xét nghiệm của Viện kiểm nghiệm thuốc TƯ (từ tháng 7 đến tháng 10/2009), đã xách định được 25/57 mẫu Chi tử có chứa chất cấm độc hại Rhodamine. Các mẫu Chi tử này được lấy rải rác tại nhiều cửa hàng thuốc đông y trên địa bàn Hà Nội như phố Lãn Ông, Ninh Hiệp (Gia Lâm)

Chi tử tự nhiên có màu vàng nâu đất bên trái. Còn Chi tử nhuộm Rhodamine B bên phải có màu nâu đỏ sẫm hơn. (Ảnh: H.Hải)

Chi tử tự nhiên có màu vàng nâu đất bên trái. Còn Chi tử nhuộm Rhodamine B bên phải có màu nâu đỏ sẫm hơn. (Ảnh: H.Hải)

 Chi tử là vị thuốc dùng trong đông y khá phổ biến, có màu vàng nâu đất, thơm và có tác dụng chữa thanh nhiệt, tá hỏa, lợi tiểu tiện, cầm máu. Không chỉ có công dụng trong chữa bệnh, màu vàng nâu của Chi tử còn được dùng để làm màu nhuộm thức ăn, lên màu rất đẹp mà không gây độc hại.

TS Phạm Thị Giảng, Trưởng khoa Đông Dược, Viện Kiểm nghiệm thuốc TƯ, cho rằng: có thể người kinh doanh nhuộm Rhodamine B để Chi tử có màu đẹp hơn, hoặc lợi dụng tính phát quang của chất này để ngăn chặn côn trùng, mối mọt.

Giữa Chi tử nhuộm và không nhuộm Rhodamine B có sự khác biệt khá rõ về màu sắc. Vì thế, khi mua vị thuốc Chi tử, người dân nên quan sát kỹ màu sắc của Chi tử để tránh mua phải loại có nhuộm Rhodamine B. Chi tử tự nhiên thường có màu vàng sẫm hoặc vàng nhạt, vàng nâu. Còn Chi tử được nhuộm Rhodamine B thì có màu nâu đỏ sẫm hơn.

Được biết, bên cạnh lấy mẫu Chi tử để kiểm tra Rhodamine, Viện Kiểm nghiệm thuốc Trung ương còn lấy nhiều mẫu dược liệu khác nhưng không phát hiện chất Rhodamine B ở các dược liệu này.

(Hồng Hải)

Nguồn: sưu tầm

CHI TỬ

Tên thuốc: DƯỢC LIỆU CHI TỬ

Tên khoa học: Gardenia jasminoides Eltis. = Gardenia florida L., họ Cà phê (Rubiaceae).

Cây nhỏ, nhẵn, cành mềm khía rãnh dọc, lá mọc đối hay mọc vòng 3, hình thuôn trái xoan, đôi khi bầu dục dài, tù và có mũi nhọn ở đỉnh, hình nêm ở gốc, màu nâu đen bóng ở trên mặt, nhạt hơn ở mặt dưới, dai, gân mảnh nổi rõ, lá kèm mềm, nhọn đầu ôm lấy cả cành như bẹ. Hoa mọc đơn độc ở đầu cành, trắng, rất thơm. Cuống có 6 cạnh hình cánh. Đài 6, thuôn nhọn đầu, ống đài có 6 cánh dọc. Tràng 6, tròn ở đỉnh, ống tràng nhẵn cả hai mặt. Nhị 6, chỉ ngắn, bao phấn tù. Bầu 2 ô không hoàn toàn, vòi dài bằng ống tràng noãn rất nhiều. Quả thuôn bầu dục có đài còn lại ở đỉnh, có 6-7 cạnh dọc có cánh. Hạt rất nhiều, dẹt. Ra hoa từ tháng 4-11. Quả tháng 5-12.

CHI_TU

Tên thuốc: Chi tử.

Tên khoa học: Gardenia jasminoides Eltis. = Gardenia florida L., họ Cà phê (Rubiaceae).

Mô tả dược liệu:
Dược liệu: Quả Chi tử khô hình trứng hoặc bầu dục, hai đầu nhỏ dần khoảng 15-18mm không tính dài khô ở đỉnh, thô khoảng 9-12m, phấn trên có 6 lá đài tồn tại, teo hình mũi mác, nhỏ dài thường không toàn vẹn, vỏ quả ngoài cấu thành bởi hai đài liền tồn tại, chung quanh có 6 cạnh dọc hình sợi, phần dưới có gốc tàn cuống quả. Vỏ ngoài màu vàng đỏ hoặc nâu hơi bóng mượt, có nhiều gân nhỏ, và quả chất cứng mỏng, nửa trong suốt, trong có hai buồng gồm nhiều hạt hình tròn trứng, dẹt, phẳng, vỏ hạt màu đỏ vàng, ngoài có vật chặt dính đã khô, giữa chúng liên kết thành khối hơi có mùi thơm đặc biệt.
Chi tử lấy loại nhỏ, vỏ mỏng màu vàng đỏ là thượng phẩm. Thường dùng loại mọc ờ vùng rừng núi, quả nhỏ chắc nguyên quả, vỏ mỏng vàng, trong đỏ thẫm có nhiều hạt, thơm khô không mốc mọt, không lẫn tạp chất là tốt. Còn Chi tử nhân là hạt đã được bóc sạch vỏ quả, màu nâu vàng hay đỏ hồng, không vụn nát là tốt (Dược Tài Học).

Bộ phận dùng: Hạt đã phơi khô của cây Dành dành (Gardenia jasminoides).

Phân bố: Cây mọc hoang và được trồng làm cảnh.

Thu hái dược liệu: Vào sau tiết Hàn lộ hàng năm, quả chín liên tục, lúc này vỏ quả ngả dần thành màu vàng lá có thể hái được, hái quả sớm hay quá muộn đều có thể ảnh hưởng tới phẩm chất, nên hái bằng tay.

Tác dụng dược lý:
+ Giải nhiệt: Tác dụng ức chế trung khu sản nhiệt như Hoàng cầm, Hoàng liên nhưng yếu hơn.
+ Tác dụng lợi mật: quả Dành dành làm tăng tiết mật. Thực nghiệm chứng minh trên súc vật sau khi thắt ống dẫn mật, Chi tử có tác dụng ức chế không cho bilirubin trong máu tăng, dịch dược liệu Chi tử làm tăng co bóp túi mật.
+ Tác dụng cầm máu: Chi tử sao cháy thành than có tác dụng cầm máu.
+ Kháng khuẩn: In vitro, thuốc có tác dụng ức chế trực khuẩn lî, tụ cầu vàng, trực khuẩn mủ xanh.
+ An thần: Thuốc có tác dụng chữa mất ngủ trong các bệnh viêm nhiễm do sốt cao làm não xung huyết và hưng phấn thần kinh.
Thực nghiệm đã chứng minh nước ngâm kiệt Chi tử có tác dụng an thần đối với chuột trắng.
+ Hạ huyết áp: trên súc vật thực nghiệm cũng đã chứng minh thuốc có tác dụng hạ áp. Ngoài ra trên súc vật thực nghiệm, thuốc có tác dụng ức chế tế bào ung thư trong nước bụng.

Thành phần hóa học: Dược liệu chi tử có một glucosid màu vàng gọi là Gardenin, khi thủy phân cho phần không đường gọi là Gardenidin, tương tự với chất anpha croxetin C20H24O4 hoạt chất của vị Hồng hoa. Ngoài ra trong Dành dành còn có tanin, tinh dầu, chất pectin.

Công năng: Thanh nhiệt, lợi thấp, lương huyết

Công dụng dược liệu: Chữa sốt phiền khát, hoàng đản, thổ huyết, chảy máu cam, đại tiện ra máu, hoả bốc nhức đầu, đỏ mắt, ù tai, tiểu tiện ít và khó, chữa đắp vết sưng đau. Nhuộm thực phẩm.

Cách dùng, liều lượng: Ngày 5 – 10g, dạng thuốc sắc dùng phối hợp với các vị thuốc khác.

Bài thuốc:
1.Trị chứng thấp nhiệt hoàng đản (bệnh viêm gan virus cấp): sách Y học cổ truyền qua các triều đại đều có ghi vịdược liệu Chi tử chữa chứng Hoàng đản là chủ dược. Thường phối hợp với Nhân trần, Mật gấu tác dụng chữa Hoàng đản càng nhanh.
+ Bài thuốc thường dùng: Nhân trần cao thang ( Nhân trần cao 18 – 24g, Chi tử 8 -16g, Đại hoàng 4 – 8g), sắc nước uống, thường gia giảm tùy tình hình bệnh lý.
2.Trị các chứng viêm nhiễm khác như:
+ Hội chứng cam nhiệt ( mắt đỏ sưng đau, chảy nước mắt, mồm khô đắng, ngủ không yên, bứt rứt). Ví dụ chữa viêm màng tiếp hợp cấp lưu hành dùng bài: Chi tử 12g, Cúc hoa 12g, Cam thảo 4g, sắc nước uống.
+ Chữa viêm bể thận, viêm đường tiểu dùng Chi tử 12g, Cam thảo tiêu 12g, sắc nước uống lợi tiểu.
3.Trị các chứng huyết nhiệt sinh chảy máu: như ho ra máu, nôn ra máu, chảy máu cam, huyết lâm ( tiểu ra máu), đại tiện có máu . dùng Chi tử kết hợp với các loại thuốc lương huyết chỉ huyết như dùng bài Lương huyết thang gồm Chi tử 16g, Hoàng cầm 12g, Bạch mao căn 20g, Tri mẫu 12g, Cát cánh 8g, Cam thảo 4g, Trắc bá diệp 12g, Xích thược 12g,sắc nước uống.
+ Chữa ho ra máu dùng bài Khái huyết phương (Đan khê tâm pháp) gồm Hắc chi tử 12g, bột Thanh đại 4g ( hòa thuốc uống), Qua lâu nhân 16g, Hải phù thạch 12g, Kha tử 3g, sắc uống.
4.Trị bỏng nhiễm trùng, sốt bứt rứt, khát nước ..: dùng Chi tử kết hợp Hoàng bá, Sinh địa, Liên kiều để thanh nhiệt giải độc như bài Gia vị tứ thuận thanh lương ẩm gồm Sinh Chi tử 12g, Liên kiều 20g, Phòng phong 12g, Đương qui 24g, Xích thược 12g, Khương hoạt 8g, Sinh Cam thảo 12g, Sinh Hoàng kỳ 40 – 60g, Sinh địa 20g, Hoàng bá 12g sắc uống.
5.Trị chấn thương bong gân: dùng Chi tử sống tán bột trộn với bột mì, lòng trắng trứng gà trộn đều đắp vùng bị thương. Hoặc trong bệnh trĩ nóng đau dùng bột Chi tử đốt cháy đen trộn vaselin bôi vào có tác dụng giảm đau.
6.Trị chảy máu cam: có thể dùng Chi tử đốt thành than thổi vào mũi.

Kiêng kỵ: Không dùng đối với chứng tiêu lỏng hư hàn.