Đừng đòi… “truyền dịch”

Một số người khi khám chữa bệnh cứ nằng nặc đòi truyền dịch. Thậm chí có sự lạm dụng đến độ có người không bệnh tật gì, chỉ thấy mệt một chút nhưng muốn cho khỏe hơn cứ nài nỉ thầy thuốc xin truyền “nước biển”, truyền “đạm” hay truyền “mỡ”. Thời gian gần đây đã có rất nhiều trường hợp bị biến chứng do tự ý truyền dịch hoặc lạm dụng việc truyền dịch.

Tác hại của việc truyền dịch tùy tiện

Rõ ràng với các tác dụng dùng trong điều trị, dịch truyền là dạng thuốc rất quý, rất cần thiết trong trường hợp bệnh nặng cần được cấp cứu hoặc trong trường hợp người bệnh không thể uống thuốc. Tuy nhiên, do có nhiều loại dịch truyền, dùng loại dịch truyền nào sẽ tùy vào từng trường hợp bệnh cụ thể, với liều lượng truyền vào trong cơ thể sẽ được cân nhắc tính toán cho từng người, có sự theo dõi của thầy thuốc chứ không phải loại nào cũng truyền được và truyền với bất cứ liều lượng nào.

Truyền dịch cho trẻ bị sốt xuất huyết.

Truyền dịch cho trẻ bị sốt xuất huyết.

Điều đặc biệt lưu ý là khi truyền dịch, với bất cứ dịch truyền nào, đều cũng có thể xảy ra các tai biến, đôi khi rất trầm trọng nguy hiểm đến tính mạng. Trước hết là nguy cơ nhiễm trùng, xuất phát từ nơi đưa thuốc vào cơ thể. Các bệnh nhiễm như: HIV/ AIDS, viêm gan siêu vi B, C… đều có thể lây nhiễm qua con đường tiêm chích, đặc biệt qua truyền dịch, nếu việc truyền dịch bừa bãi không đúng quy cách, không được vô trùng. Thứ đến, do truyền dịch đưa vào cơ thể một số lượng nước lớn, các chất điện giải, các chất dinh dưỡng nên có thể gây rối loạn về chuyển hóa gây các hiện tượng phù ở tim, thận… Đặc biệt, dịch truyền có thể gây phản ứng toàn thân khi cơ thể không “chịu” như: hiện tượng sốt run hoặc gây sốc dịch truyền rất nguy hiểm. Chính vì vậy, khi thầy thuốc chỉ định cho dùng dịch truyền là đã có sự cân nhắc rất kỹ, thấy đó là việc rất cần thiết và khi truyền dịch, thầy thuốc phải theo dõi chặt chẽ để có tai biến xảy ra sẽ có biện pháp xử lý kịp thời.

Trẻ em có ngoại lệ?

Trẻ em cũng là đối tượng mà một số bậc phụ huynh cũng thường nài nỉ cho vô dịch truyền. Chỉ khi bị sốt xuất huyết loại nặng, có tình trạng thất thoát nước từ máu trong cơ thể thì bác sĩ mới chỉ định vô dịch truyền. Còn nếu chỉ bị sốt thông thường chưa rõ nguyên nhân mà vội truyền dịch là rất sai. Có trường hợp đặc biệt cần phải kể là đối với trẻ tuy không được mập mạp như một số trẻ cùng trang lứa khác nhưng sức khỏe bình thường không đau yếu gì, ăn uống vẫn tốt, thế mà phụ huynh lại tìm cách tiêm truyền loại dịch truyền với mục đích à để khỏe hơn, mập mạp hơn thì rất nguy hiểm. Truyền dịch như thế chỉ lãng phí, vì thật ra đối với trẻ bình thường (xin đừng có quan niệm trẻ mập mạp là đồng nghĩa với khỏe mạnh), dịch truyền chẳng có tác dụng gọi là “khỏe hơn, mập mạp hơn” mà trẻ được tiêm luôn luôn có nguy cơ bị các tai biến đã kể ở trên do tiêm truyền gây ra. Nên lưu ý, chỉ có bác sĩ mới là người có thẩm quyền nhất trong việc quyết định có nên truyền dịch hay không. Và thông thường, chỉ khi nào không ăn uống được do bệnh, bác sĩ mới chỉ định cho tiêm dịch truyền cung cấp năng lượng và chất dinh dưỡng. Xin đừng tạo sức ép tâm lý đối với thầy thuốc để thầy thuốc cho dùng dịch truyền, trong khi xét về mặt khách quan, việc truyền dịch như thế chưa thật sự cần thiết. Trong trường hợp còn ăn uống được thì chế độ ăn thích hợp bao giờ cũng tốt hơn việc nuôi ăn bằng tiêm truyền, chứa nhiều nguy cơ tai biến.

Khi nào thì truyền dịch đúng yêu cầu điều trị?

Ta cần lưu ý, truyền dịch có nhiều loại tùy theo tác dụng, có thể chia làm 4 loại như sau: Dịch truyền cung cấp nước, các chất điện giải: dùng trong trường hợp cơ thể bị mất nước, mất chất điện giải. Dung dịch loại này có dung dịch “ngọt” chứa đường glucose, dung dịch “mặn” chứa muối natri clorid, hoặc dung dịch chứa nhiều chất điện giải có tên ringer lactat. Từ “nước biển” ban đầu được dùng chính để chỉ dung dịch mặn chứa muối natri clorid giống như nước biển nhưng về sau bà con ta dùng từ “nước biển” để gọi tất cả các dịch truyền khác.

Dung dịch tái lập cân bằng kiềm toan: dùng trong trường hợp cơ thể bị bệnh hoặc thừa toan (tức dư chất acid hay còn gọi “toan huyết”) hoặc thừa kiềm (tức dư chất base). Truyền dịch loại này sẽ có tác dụng trung hòa sự thừa toan hay thừa kiềm, như khi người bệnh bị toan huyết, bác sĩ chỉ định tiêm truyền dung dịch kiềm là natri bicarbonat.

Dịch truyền cung cấp năng lượng và chất dinh dưỡng: dùng trong trường hợp bệnh nhân bị bệnh không thể ăn qua đường tiêm tĩnh mạch và đây là loại dịch truyền hay bị lạm dụng. Dịch truyền loại này cung cấp các acid amin thiết yếu (là chất dinh dưỡng cơ bản lấy từ chất đạm), các vitamin và chất khoáng, một số chất béo (như dầu đậu nành tinh lọc nhằm cung cấp năng lượng).

Dịch truyền thay thế máu: dùng trong trường hợp người bệnh bị mất máu. Dịch truyền loại này là các dung dịch keo chứa các chất có phần tử lớn như dextran, có tác dụng tái lập khối lượng chất lỏng trong máu

Ngoài 4 loại dịch truyền kể trên, người ta cần dùng dịch truyền có chứa thuốc như thuốc kháng sinh để tiêm truyền trong trường hợp bị nhiễm khuẩn nặng, vì dùng kháng sinh dạng uống sẽ không hiệu qua

PGS.TS. NGUYỄN HỮU ĐỨC
suckhoedoisong.vn

Advertisements

Oxy già có “lành” như bạn nghĩ?

Oxy già là loại thuốc rất phổ biến trong tủ thuốc của các gia đình, nhưng bạn đã thực sự am hiểu loại thuốc này chưa?
Dưới đây là những sai lầm khi sử dụng Oxy già của rất nhiều người, bởi họ nghĩ Oxy già rất “lành”

1.      Tự ý “rửa” tai bằng oxy già

Bạn nghĩ oxy già là dung dịch sát khuẩn, rất “lành” nên ngay cả khi không có bệnh, bạn vẫn nhỏ dung dịch này để làm sạch tai hoặc để loại bỏ ráy tai. Cũng có khi bạn hoặc người nhà bị viêm tai. Sau khi được chữa lành, để giữ vệ sinh cho tai, bạn vẫn tiếp tục nhỏ oxy già và xem đó như một biện pháp vệ sinh hữu hiệu…

Oxy già là loại thuốc phổ biến trong tủ thuốc của các gia đình, nhưng nhiều người vẫn sử dụng sai công dụng của nó

Thực tế, oxy già vốn là dung dịch được sử dụng trong điều trị cho bệnh nhân viêm tai. Nó có tác dụng rửa sạch các chất bẩn trong trường hợp tai xuất hiện mủ, giúp dễ dàng lau sạch mủ. Tuy nhiên, do không am hiểu nhiều nên không ít người đã sử dụng sai nồng độ khiến cho tình trạng bệnh trầm trọng hơn.

Nhỏ oxy già nồng độ cao vào tai trong thời gian dài sẽ làm ăn mòn da và gây chảy dịch nhiều hơn. Thậm chí, nó có thể làm cho tình trạng chảy mủ kéo dài, dẫn đến viêm loét ống tai. Chưa kể đến nếu bạn lau không sạch, để sót dung dịch oxy già trong tai thì sẽ gây kích ứng, phù nề niêm mạc, hòm nhĩ (trong trường hợp thủng màng nhĩ), da ống tai.

Niêm mạc ở vòm tai rất dễ bị tổn thương, khi nhỏ oxy già có nồng độ cao có thể gây bỏng. Vì vậy các bác sĩ thường sử dụng oxy già nồng độ thấp (từ 3-10%) để tránh gây tổn thương. Đối với trẻ em, da và niêm mạc còn mỏng, các bác sĩ còn pha loãng hơn để giảm nồng độ.

2.      Rửa vết thương đang lành

Với công dụng sát khuẩn, làm sạch vết thương, oxy già được sử dụng khá phổ biến. Khi tiếp xúc với mô bệnh, oxy già giải phóng ra oxy (nên có hiện tượng sủi bọt), dẫn đến loại bỏ mảnh vụn của mô và mủ, làm sạch vết thương. Ngoài ra, nó cũng có tác dụng cầm máu nhẹ.

Tuy nhiên có một điều ít người biết đến là oxy già chỉ phát huy tác dụng nếu bạn sử dụng ngay sau khi bị thương. Còn sau đó, khi vết thương đang lành (lên da non), nó sẽ làm tổn thương những phần da mới phục hồi khiến vết thương lâu lành hơn.

3.      Dùng để súc miệng

Là chất oxy hóa được sử dụng như một loại thuốc kháng khuẩn, tẩy uế và khử mùi, oxy già được sử dụng trong điều trị viêm miệng cấp. Một số người cũng sử dụng dung dịch này để súc miệng khử mùi, làm sạch ống chân răng và hốc tủy.

Tuy nhiên, sử dụng oxy già trong thời gian dài để rửa miệng có thể gây phì đại nhú lưỡi (hay còn gọi là lưỡi có lông).

4.      Sử dụng sai nồng độ

Oxy già có nhiều nồng độ khác nhau từ 1,5-30% (phổ biến nhất là loại có nồng độ từ 1,5-3%), tùy theo mục đích sử dụng mà lựa chọn loại phù hợp.

Sử dụng sai nồng độ là nguyên nhân lớn nhất dẫn đến những hậu quả đáng tiếc. Kích ứng, gây bỏng da và niêm mạc, tổn thương mô… là những tác hại có thể xẩy ra nếu bạn sử dụng oxy già ở nồng độ đậm đặc.

Có thể sử dụng oxy già để sát trùng vết thương nhưng lưu ý sử dụng đúng nồng độ

Vì thế đối với loại dung dịch oxy già có nồng độ 27%, 30% thường được sử dụng để pha thành những dung dịch loãng hơn. Cần chú ý, trong mọi trường hợp bạn không được bôi lên da hay các vùng tổn thương dung dịch oxy già chưa được pha loãng. Ngoài ra, sử dụng oxy già trong thời gian dài còn có thể gây ung thư.

Thông thường, để làm sạch vết thương hoặc vết loét, bạn cần dùng dung dịch oxy già 1,5-3% hoặc dạng gel 1,5% bôi tại chỗ. Để rửa miệng và súc miệng khử mùi trong điều trị viêm miệng cấp, bạn chỉ cần pha loãng vài giọt oxy già 1,5-3% vào một cốc nước.

Với vết thương nhỏ ở miệng hoặc lợi, dùng oxy già 1,5% dạng gel, bôi 4 lần/ngày (bôi một lượng gel nhỏ bôi vào, để yên ít nhất một phút, sau đó khạc nhổ ra) để làm sạch vết thương.

Trong trường hợp muốn loại bỏ ráy tai, cần pha loãng một phần dung dịch nước oxy già 6% với ba phần nước để nhỏ tai và đừng quên lau sạch tai bằng bông mềm sau khi nhỏ oxy già. Ngoài ra, bạn có thể sử dụng nước oxy già 2% để rửa âm hộ, âm đạo.

(Theo TC SK GĐ)