5 tai biến thường gặp trong sản khoa

 

1. Băng huyết sau sinh (BHSS)

Khi lượng máu mất sau sinh nhiều hơn 500 ml. Tuy nhiên, trên những người có sức khỏe kém, đã có tiềm tàng thiếu máu thì không đợi đến ngưỡng 500 ml mới nguy hiểm đến tính mạng. Nguyên nhân của BHSS chủ yếu là do tử cung gò kém ngay sau sổ nhau, có thể nhiều lý do: người sinh nhiều lần, con to hay đa thai, ối nhiều, quá trình chuyển dạ kéo dài (làm cho tử cung quá căng trước sinh, nên đâm ra đờ và gò kém sau sinh), tử cung có chất lượng xấu (có sẹo mổ, có nhân xơ), bánh nhau bám thấp ở đoạn dưới tử cung là nơi có ít cơ hơn nên sẽ gò không tốt sau sinh.

BHSS là lý do gây tử vong mẹ nhiều nhất, tại các vùng kém phát triển, trong đó có Việt Nam. BHSS nguy hiểm ở chỗ diễn tiến rất nhanh, có thể làm trở tay không kịp. Chỉ trong vòng 5 phút sau sổ nhau, nếu tử cung không gò tốt đã có thể chảy quá lượng máu theo định nghĩa của băng huyết. Đa số BHSS xảy ra trong ngày đầu sau sinh và những trường hợp trầm trọng thường chỉ trong 2 – 3 giờ đầu. Để phòng ngừa BHSS, cần đảm bảo người mẹ có đầy đủ sức khỏe, không thiếu máu, thai không quá to, quá trình chuyển dạ được theo dõi cẩn thận tránh kéo dài quá lâu, đánh giá lượng máu mất khi sinh thật chính xác để can thiệp kịp thời và cảnh giác với BHSS luôn chực chờ xảy ra.

so sinh 5 tai biến thường gặp trong sản khoa

2. Tiền sản giật (TSG)

Là tình trạng cao huyết áp, kèm phù nhiều và mất đạm qua nước tiểu. Khoảng 10 – 15% thai phụ có tình trạng này. TSG nếu theo dõi không tốt, huyết áp tăng cao dễ đưa đến cơn co giật và các tai biến do huyết áp (giống người già bị cao huyết áp), TSG cũng là bạn đồng hành của BHSS. Nguyên nhân của TSG thật ra vẫn chưa biết, các trường hợp nhẹ vẫn có thể theo dõi sinh bình thường; khi huyết áp không khống chế được buộc lòng phải chấm dứt thai để cứu mẹ, vì bản chất của bệnh sẽ tự lui sau khi sổ nhau (3/4 các trường hợp TSG đã không còn lo ngại sau sinh 24 giờ). Để phát hiện sớm TSG, trong khám thai luôn có theo dõi huyết áp và nước tiểu trong mỗi lần khám, đặc biệt từ 20 tuần trở đi là thời gian bệnh bắt đầu xuất hiện. Khi đã có cao huyết áp trước lúc mang thai, TSG vẫn có thể xảy ra, sớm hơn và phức tạp hơn.

TSG không có cách phòng chống, chỉ có phát hiện bệnh sớm, theo dõi sát sao và can thiệp kịp thời. Bản thân thai phụ cần có máy huyết áp tự theo dõi tại nhà. Khi có dấu hiệu báo động như nhức đầu, mờ mắt, đau thượng vị, có thay đổi nhận thức thì không chần chừ mà nên đến ngay cơ sở y tế gần nhất. TSG ở lần thai đầu vẫn có thể xảy ra ở các lần thai sau.

3. Nhiễm trùng hậu sản

Có nguyên nhân từ việc sót nhau trong khi sinh hay nhiễm trùng các vết thương đường sinh dục. Khi có sốt sau ngày đầu, nên nghĩ tới nhiễm trùng, trong đó viêm nội mạc tử cung là nguyên nhân thường gặp nhất. Kèm theo sốt, có thể bụng đau, chướng, dịch thoát ra hôi hay có mủ. Thật ra, khi sinh tại cơ quan y tế, thường rất khó sót nhau, nếu có, đa số sẽ phát hiện được trong những ngày còn theo dõi tại viện vì sót nhau làm tình trạng máu ra sẽ nhiều, bụng chướng, tử cung co hồi không tốt sau sinh. Vì vậy, theo dõi hậu sản trong tuần đầu là hết sức quan trọng, có thể theo dõi tại nhà, nhưng nếu thấy có ra máu nhiều dây dưa, nhất là có sốt thì đừng chủ quan. Một điều nữa cũng gây khó khăn cho việc phát hiện sớm là tình trạng căng sữa cũng có thể gây sốt làm nhầm lẫn nhận định của thai phụ. Cũng liên quan đến nhiễm trùng có dính dáng đến thai kỳ là tình trạng nhiễm trùng sau sẩy thai hay nạo phá thai. Các nhiễm trùng này có thể diễn tiến nhanh cấp tính đưa đến nhiễm trùng toàn thân nghiêm trọng; một số trường hợp có diễn tiến âm thầm gây ra viêm vùng chậu mãn tính, tiền đề của tình trạng vô sinh do dính, tắc vòi trứng vì viêm nhiễm.

4. Vỡ tử cung, đa số là do quá trình theo dõi chuyển dạ không sát, không có can thiệp đúng lúc và đúng kỹ thuật đưa đến vỡ tử cung.

5. Uốn ván rốn là do việc cắt rốn trẻ sau sinh và chăm sóc rốn không đúng cách, kèm với việc mẹ không được tiêm ngừa uốn ván đầy đủ. Thật ra, tỷ lệ uốn ván rốn đã hạ thấp rất nhiều so với 10 năm trước đây; tuy nhiên, ở những vùng sâu, xa, vẫn còn dai dẳng xảy ra. Uốn ván rốn nguy hiểm vì tỷ lệ tử vong của trẻ bị uốn ván rất cao, nếu sống sót nhiều khả năng di chứng lên sự phát triển thần kinh vận động.

Những trường hợp đáng tiếc:

– Bệnh nhân không phát hiện kịp thời những dấu hiệu nguy hiểm hay không biết lúc nào cần đến trợ giúp y tế. Đây là lỗi của truyền thông y tế đã không tiếp cận được nhu cầu của người dân để giải quyết thỏa đáng.

kham thai1 5 tai biến thường gặp trong sản khoa

– Bệnh nhân biết cần đến y tế nhưng khó tiếp cận dịch vụ do ở vùng sâu, xa, phương tiện đi lại khó khăn. Đây có thể là khó khăn do vấn đề kinh tế, ngoài ra việc bao phủ của hệ thống y tế công cũng chưa đạt đến mức rộng khắp để thỏa đáng yêu cầu của người dân.

– Nghiêm trọng hơn là khi người bệnh đến được với y tế thì chúng ta lại can thiệp không hữu hiệu, có thể do bệnh nhân đến trễ, cũng có thể vì chủ quan đánh giá không đúng tình hình hay theo dõi không sát sao để can thiệp đúng lúc và hiệu quả.

ThS.BS. Đặng Lê Dung Hạnh (Trưởng khoa khám bệnh BV Hùng Vương)

Advertisements

Những chú ý nếu cần làm các xét nghiệm

 xet_nghiem_sinh_hoa_mau_biet_de_tranh_lo_au_0

Hiện nay nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người dân tăng lên rất cao nên có khá nhiều người đã đến các phòng mạch để tổng kiểm tra cơ thể bằng nhiều loại xét nghiệm. Bên cạnh đó, việc các cơ sở y tế kể cả công và tư đều “rất tích cực” chỉ định các xét nghiệm đã làm cho nhiều người “bị động” khi được làm xét nghiệm.

Các xét nghiệm liên quan đến sinh hóa máu hoặc X-quang, siêu âm không phải lúc nào cũng phản ánh chính xác tình trạng cơ thể nếu trước khi xét nghiệm hoặc làm các kỹ thuật chụp, chiếu, thăm dò mà không có sự chuẩn bị trước.

Không nên uống thuốc trước khi đi xét nghiệm: có những xét nghiệm chỉ cho kết quả chính xác khi người bệnh nhịn đói 4 – 6 giờ trước khi làm xét nghiệm hoặc không ăn sáng sau một đêm ngủ dậy. Do sau khi ăn, chất dinh dưỡng sẽ chuyển hóa thành đường glucose để ruột hấp thụ và biến đổi năng lượng nuôi cơ thể. Khi đó, lượng đường hoặc mỡ trong máu tăng lên rất cao, nếu tiến hành xét nghiệm, kết quả thu được sẽ không chính xác. Không chỉ nhịn đói, người làm xét nghiệm cũng cần tránh sử dụng các chất kích thích (thuốc lá, cà phê…) vài giờ trước khi lấy máu để có kết quả chẩn đoán bệnh chính xác. Tuy nhiên, không phải bất kỳ xét nghiệm máu nào cũng cần nhịn đói. Chỉ một số bệnh cần kiểm tra đường huyết thì phải nhịn đói khi xét nghiệm: bệnh liên quan đường và mỡ (đái tháo đường), bệnh về tim mạch (cholesterol, triglycerid, HDL, LDL…), bệnh về gan mật. Còn lại những xét nghiệm bệnh khác (khoảng 300 xét nghiệm) như HIV, suy thận, cường giáp, Alzheimer (mất trí nhớ ở người già)… không cần để bụng đói.

Không nên dùng thuốc vì có thể ảnh hưởng đến kết quả xét nghiệm. Nếu đang dùng loại thuốc gì phải thông báo cho thầy thuốc.

Đối với các xét nghiệm máu: thời điểm lấy máu làm xét nghiệm tốt nhất là vào buổi sáng. Nhịn ăn, không uống nước ngọt, sữa, nước hoa quả, rượu, chè, cà phê, trong vòng 12 tiếng trước khi làm xét nghiệm máu. Các chỉ số sinh hóa máu của các xét nghiệm làm không đúng thời điểm, sau ăn hoặc sau khi dùng các chất kích thích sẽ cho kết quả không chính xác.

Đối với các xét nghiệm chất thải của cơ thể cần phải chuẩn bị chu đáo về dụng cụ đựng bệnh phẩm và cách lấy bệnh phẩm. Trước khi làm xét nghiệm nước tiểu cần phải vệ sinh bộ phận sinh dục ngoài thật sạch sẽ với nước máy, không dùng chất tẩy rửa có tính kiềm hoặc acid để thụt rửa vì có thể ảnh hưởng đến kết quả xét nghiệm. Cách lấy mẫu nước tiểu để xét nghiệm: đi một chút nước tiểu, sau đó mới lấy phần nước tiểu giữa dòng vào ống đựng vô khuẩn do nhân viên y tế chuẩn bị trước và gửi đi làm xét nghiệm. Xét nghiệm phân phải được chuẩn bị trước về tâm lý cũng như dụng cụ đựng bệnh phẩm. Nhân viên y tế cần hướng dẫn người bệnh lấy mẫu phân ở những chỗ có nhầy, máu, lỏng…

Xét nghiệm tế bào cổ tử cung: nhằm phát hiện sớm ung thư cổ tử cung. Xét nghiệm này chỉ dành cho những phụ nữ đã có quan hệ tình dục rồi. Không làm xét nghiệm này khi người bệnh đang có hành kinh hoặc đang có ra máu âm đạo. Với những người đang có viêm nhiễm hoặc đang đặt thuốc điều trị viêm âm đạo nếu cần thiết phải làm XN có thể trì hoãn làm xét nghiệm này sau lần sạch kinh của tháng tới. Không làm XN này cho người có thai hoặc chưa có quan hệ tình dục.

Ngày làm xét nghiệm tế bào cổ tử cung tốt nhất là ngày thứ 15 sau ngày hành kinh đầu tiên hoặc sau khi sạch kinh từ 7 – 10 ngày.

Đối với chụp X-quang và siêu âm: khi siêu âm ổ bụng nên nhịn ăn ít nhất 4 tiếng trước khi làm siêu âm. Siêu âm phần phụ (ở nữ giới) hoặc tiền liệt tuyến (ở nam giới), cần uống nhiều nước để có bàng quang đầy, có cảm giác buồn tiểu tiện trước khi làm siêu âm. Không chụp X-quang nếu phụ nữ có thai hoặc nghi ngờ có thai.

(Nguồn: SKĐS – ThS. LÊ QUỐC THỊNH)

 

Mùi vị lạ trong miệng và cách chữa bằng Đông dược

Ông T., 50 tuổi, hay bị đầy bụng sau bữa ăn, đại tiện lúc táo lúc lỏng, trong miệng luôn có vị ngòn ngọt (dù ông không hề ăn đồ ngọt), súc miệng, đánh răng mãi cũng không hết. Sau khi đi khám nhiều nơi không tìm ra nguyên nhân, ông đến một lương y và được biết mình mắc chứng “tỳ vị khí hư”, “hư nhiệt nội sinh”.

Sau vài ngày uống thuốc của vị lương y, cảm giác ngọt trong miệng ông T. dần dần biến mất. Triệu chứng đầy bụng sau khi ăn cũng giảm hẳn…

Trên lâm sàng, trường hợp như ông T. thực ra không hiếm. “Vị lạ trong miệng” thực chất là loại triệu chứng sớm, báo trước bệnh tật. Theo lý luận của Đông y, lưỡi thông với tạng Tâm. Khi cơ thể khỏe mạnh, tâm khí điều hòa thì trong miệng không có vị lạ, lưỡi có thể phân biệt chính xác các mùi vị. Nhưng khi âm dương mất cân bằng, hoạt động của một số tạng phủ bị rối loạn, tạng tâm có thể bị ảnh hưởng khiến cho tâm khí bị rối loạn, trong miệng xuất hiện mùi vị dị thường.

Miệng ngọt: Tạng Tỳ bị nóng thì miệng có vị ngọt; nghĩa là khi chức năng tiêu hóa của tỳ vị bị “nhiệt tà” gây rối loạn thì miệng thấy ngọt. Điều này tương tự cách lý giải của y học hiện đại: Chức năng tiêu hóa rối loạn có thể dẫn tới sự phân tiết dị thường một số men tiêu hóa; đặc biệt là khi lượng men amylase trong nước bọt tăng lên, miệng sẽ cảm thấy có vị ngọt.

Miệng ngọt do tỳ vị thực nhiệt: Thường do ăn quá nhiều thứ cay nóng, hoặc do nhiệt độc ở bên ngoài xâm phạm, lâu ngày tích tụ lại mà gây bệnh. Ngoài cảm giác ngọt miệng, bệnh nhân thường thấy khô khát, thích uống nước mát, ăn nhiều, mau đói; hoặc lưỡi lở loét, đại tiện táo bón, nước tiểu vàng, chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng khô. Để khắc phục, cần thanh tỳ tả hỏa bằng cách dùng một trong 2 bài thuốc sau:

– Tả hoàng tán: Hoắc hương 15 g, chi tử 10 g, thạch cao 10 g, cam thảo 8 g, phòng phong 2 g. Sắc nước uống mỗi ngày 1 thang.

– Thanh vị tán: Hoàng liên 10 g, đương quy 10 g, thăng ma 10 g, sinh địa 12 g, đan bì 12 g. Sắc nước uống mỗi ngày 1 thang.

Ngọt miệng do tỳ vị khí hư: Thường gặp ở người cao tuổi hoặc người mắc bệnh lâu ngày, tỳ vị bị tổn thương, dẫn đến tình trạng cả thực thể và chức năng bị thương tổn (khí âm lưỡng thương), khiến nhiệt tích ở bên trong (hư nhiệt nội sinh) thiêu đốt tân dịch ở tạng tỳ mà gây nên bệnh. Biểu hiện thường gặp: Miệng có cảm giác ngọt mà háo, người mệt mỏi, thở yếu, chán ăn, bụng đầy trướng, đại tiện lúc táo lúc nhão.

Để khắc phục, cần ích khí kiện tỳ và hòa vị dưỡng âm bằng cách dùng 2 bài thuốc sau: Sa sâm 15 g, mạch môn đông 10 g, ngọc trúc 10 g, phục linh 10 g, sinh địa 12 g, hoắc hương 12 g, sa nhân 8 g, trích cam thảo 8 g. Sắc nước uống mỗi ngày 1 thang.

Miệng đắng: Theo y học hiện đại, vị đắng trong miệng thường liên quan đến những rối loạn trong quá trình chuyển hóa dịch mật. Còn theo Đông y, khi “nhiệt” tích tụ ở gan mật, gây rối loạn chức năng tiêu hóa thủy cốc thì trong miệng xuất hiện vị đắng. Bệnh nhân thường bị đau đầu, choáng váng, chất lưỡi vàng mỏng.

Để khắc phục, cần dùng phép “thanh can tả hỏa” bằng bài thuốc “Long đảm tả can thang”: Long đảm thảo (sao rượu) 10 g, hoàng cầm (sao rượu) 12 g, chi tử 10 g, mộc thông 10 g, trạch tả 15 g, xa tiền tử 15 g, sinh địa (sao rượu) 15 g, đương quy (sao rượu) 10 g, sài hồ 10 g, cam thảo 5 g. Sắc nước uống mỗi ngày 1 thang.

Miệng chua: Y học hiện đại cho rằng, cảm giác chua miệng thường hay gặp ở những người viêm dạ dày và viêm loét đường tiêu hóa, liên quan đến sự gia tăng tiết dịch ở dạ dày. Còn theo Đông y, chua miệng có liên quan mật thiết với chứng can tỳ bất hòa” (tạng can bị rối loạn, ảnh hưởng xấu đến chức năng tiêu hóa của tỳ vị). Ngoài cảm giác chua miệng, bệnh nhân thường thấy ngực sườn đau tức, đau đầu hoa mắt, bồn chồn, dễ cáu giận, sau khi ăn bụng đầy trướng, đại tiện táo bón, nước tiểu vàng, rêu lưỡi vàng mỏng.

Để khắc phục, cần tả can hòa vị bằng bài thuốc sau: Hoàng liên 10 g, ngô thù du 10 g, phục linh 10 g, bạch truật 10 g, nhân sâm 6 g, cam thảo 3 g, trần bì 15 g. Sắc nước uống mỗi ngày 1 thang.

Miệng mặn: Theo Đông y, mặn là vị của thận. Nếu làm lụng mệt nhọc quá mức, tuổi cao sức yếu hoặc mắc bệnh lâu, thận sẽ bị suy tổn, chất dịch từ đây vọt lên trên khiến miệng có vị mặn (thường kèm theo lưng gối mỏi đau, đầu choáng tai ù, ngực, lòng bàn chân bàn tay nóng, mồ hôi trộm, di tinh, rêu lưỡi ít).

Để khắc phục, cần tư âm giáng hỏa, bổ ích thận âm bằng bài thuốc sau: Tri mẫu 10 g, hoàng bá 10 g, sơn dược 10 g, đan bì 10 g, phục linh 10 g, thục địa 15 g, ngô thù du 12 g, trạch tả 12 g, phụ tử 12 g, nhục quế 8 g. Sắc nước uống mỗi ngày 1 thang.

Miệng hôi: Thường liên quan đến 3 tình huống.

– Vị hỏa hun đốt: Miệng nóng hôi, chất lưỡi đỏ hay lở loét, hoặc chân răng sưng thũng, kèm theo khát nước, thích uống lạnh, đại tiện táo, nước tiểu vàng. Để khắc phục, cần thanh tả vị hỏa bằng bài thuốc: Đại hoàng 10 g, hoàng cầm 10 g, hoàng liên 5 g. Sắc nước uống mỗi ngày 1 thang.

 Thức ăn tích trệ: Miệng hôi có mùi như lên men chua, mùi thức ăn thối rữa, hoặc kèm theo mùi thức ăn sống, chán ăn, rêu lưỡi dày nhớt. Để khắc phục, cần tiêu thực hóa tích bằng bài thuốc: Sơn tra 10 g, thần khúc 12 g, lai phục tử 10 g, trần bì 10 g, bán hạ 10 g, phục linh 10 g, liên kiều 10 g. Sắc uống.

– Không chú ý vệ sinh răng miệng: Bị sâu răng hoặc viêm loét khoang miệng. Có thể sử dụng bài thuốc: Hoàng cầm 10 g, hoắc hương 10 g, thạch cao 10 g, sinh địa 10 g, cam thảo 4 g. Sắc lấy nước ngậm nhiều lần trong ngày.

(Lương y Huyên Thảo, Sức Khoẻ & Đời Sống)

Các căn bệnh “triệu người mắc một” giống Wanbi Tuấn Anh trên thế giới

U tuyến yên trong não, ung thư tuyến mồ hôi, hội chứng Cloves… là những căn bệnh hiếm gặp, với tỷ lệ mắc 1/1.000.000 người.

Cơ thể con người chính là kết quả của một quá trình tiến hóa phức tạp, kì công. Tuy nhiên, không phải lúc nào chúng cũng vận hành hoàn hảo. Khi bị rối loạn hormone hay xuất hiện một khối u, chúng cũng khiến cho người bệnh bị thay đổi nội tiết tố, cấu trúc gene, dẫn đến mắc những chứng bệnh lạ.

Cùng điểm lại một vài hội chứng bệnh đáng sợ và cực hiếm, với tỷ lệ 1 triệu người mắc 1 qua nghiên cứu dưới đây.

1. U tuyến yên trong não

Theo số liệu thống kê thì trên thế giới, ước tính cứ 5 người thì 1 người mang trong mình khối u tuyến yên. Mặc dù trong số những người mắc bệnh, chỉ số ít trường hợp mắc khối u tuyến yên ác tính, còn lại đa phần đều là u lành tính. Trường hợp được ghi nhận gần nhất là nam ca sĩ Wanbi Tuấn Anh ở Việt Nam đã tử vong do mắc phải căn bệnh hiểm nghèo này, với tỷ lệ người mắc bệnh là 1/1.000.000.

Tuyến yên hay tuyến não thùy là một trong những tuyến nội tiết tố của cơ thể. Bộ phận này có kích thước nhỏ, tương đương hạt đậu và nặng từ 0,5 – 1gr. Tuy nhỏ bé nhưng tuyến yên là nơi tiết hormone kích thích sinh trưởng, kích thích tuyến giáp… điều tiết gần như mọi hoạt động của cơ thể, từ sinh trưởng đến tự vệ.

Có hai nhóm u tuyến yên: u chức năng và u không chức năng. U không chức năng không tiết ra nội tiết tố nên ít gây rối loạn nội tiết và thường triệu chứng khiến bệnh nhân đi khám bệnh là nhức đầu, mờ mắt.

benh-kp-kenh14-01-42ef1

U chức năng tiết ra nội tiết tố nên gây rối loạn chức năng nội tiết. Khối u sẽ làm bệnh nhân bị giảm hoặc tăng sinh nội tiết tố của cơ thể, dẫn đến bệnh nhân bị thiếu hoặc thừa nội tiết tố tăng trưởng, nội tiết tố sinh dục, nội tiết tố tuyến giáp, nội tiết tố tuyến thượng thận. Đặc biệt, nếu bị suy toàn bộ tuyến yên, bệnh nhân có thể rơi vào hôn mê và tử vong.

Trên thực tế, triệu chứng của bệnh u tuyến yên rất dễ nhầm lẫn với các bệnh khác. Bởi vậy mà khi được phát hiện, bệnh đã tiến triển nhiều, gây khó khăn trong việc điều trị.

Hiện tại, các nhà nghiên cứu chưa thể xác định được nguyên nhân dẫn tới căn bệnh này, ngoài yếu tố di truyền được phát hiện ở một số ít trường hợp.

2. Ung thư tuyến mồ hôi

Ung thư tuyến mồ hôi là một căn bệnh vô cùng hiếm gặp, tính đến năm 1976, cả thế giới chỉ có 48 người mắc bệnh này. Chính vì thế, căn bệnh này cũng được liệt vào danh sách những căn bệnh “triệu người mắc một”. Căn bệnh ung thư tuyến mồ hôi kỳ lạ này được bác sĩ Hoa Kỳ – Joseph Leonard Goldstein và các cộng sự mô tả lần đầu vào năm 1982.

image004

Theo đó, triệu chứng ban đầu của ung thư tuyến mồ hôi là xuất hiện một cục u nhỏ trên đùi, cẳng chân, vai hoặc phía sau lưng. Cục u này không đối xứng, sờ sượng cứng, nổi trên bề mặt da sẫm màu và có màu hồng.

Lúc đầu, người bệnh thường chủ quan, không mấy quan tâm, nhưng sau đó khối u đột ngột gia tăng kích thước khiến cho người bệnh cảm giác khó chịu và đau nhức dữ dội.

Mặc dù phẫu thuật loại bỏ khối u ngay từ giai đoạn đầu đi đôi với hóa trị liệu, xạ trị liệu được xem là phác đồ điều trị hiệu quả nhất nhưng nguy cơ tử vong của loại bệnh này vẫn cao vì khả năng tái phát của nó tới 45-59%. Nguy hiểm hơn, nếu là u ác tính, chúng sẽ di căn rất nhanh đến hạch bạch huyết – gây tổn thương hạch vùng nách, hạch cổ hoặc di căn vào xương, phổi… dẫn đến tử vong.

Cho đến nay, nguyên nhân dẫn đến ung thư tuyến mồ hôi vẫn chưa được xác định một cách cụ thể. Tuy nhiên, các nhà khoa học cho rằng, chính sự phơi nhiễm bởi tia cực tím, suy giảm miễn dịch là các yếu tố liên quan đến căn bệnh quái ác này.

3. Hội chứng “người sói”

Hội chứng “người sói” là một trong những bệnh hiếm gặp nhất trên thế giới với xác suất 1/1.000.000 người. Tên khoa học của căn bệnh này là Hypertrichosis. Theo mô tả, những người mắc bệnh này có khuôn mặt và cơ thể bị bao phủ bởi lông. Mặc dù vậy, người mắc bệnh này vẫn sống khỏe mạnh và không bị ngứa ngáy gì.

Nguyên nhân cụ thể của căn bệnh vẫn chưa được xác định chính xác nhưng theo các nhà nghiên cứu, đó là do người bệnh bị đột biến bẩm sinh hoặc do tác dụng phụ của thuốc, kéo theo hệ lụy là căn bệnh ung thư.

Bé Supatra Sasuphan được xác định là mắc hội chứng người sói và là người rậm lông nhất thế giới.

Bé Supatra Sasuphan được xác định là mắc hội chứng người sói và là người rậm lông nhất thế giới.

Trường hợp đầu tiên trên thế giới được phát hiện năm 1648 ở quần đảo Canary (Tây Ban Nha). Từ đó đến nay, đã có khoảng 50 bệnh nhân mắc hội chứng trên được phát hiện như ở Nga, Ấn Độ, Mỹ, Thái Lan…

Thậm chí, một gia đình ở Myanmar có tới 4 thế hệ đều mọc lông khắp cơ thể. Bé gái 11 tuổi người Thái Lan, Supatra Sasuphan mới đây được công nhận là người rậm lông nhất thế giới.

4. Hội chứng Cloves

Hội chứng Cloves là một trong những chứng bệnh hiếm gặp trên thế giới. Những người mắc hội chứng này thường có da và xương phát triển quá mức. Ngoài ra, sự tăng trưởng bất thường của các mô khiến cơ thể người bệnh phát triển không cân xứng, hình thành các khối u, xuất hiện ở nhiều nơi trên cơ thể như mặt, lưng, chân…

Cậu bé Aidan Jackoviak Smith không may mắc chứng bệnh lạ.

Cậu bé Aidan Jackoviak Smith không may mắc chứng bệnh lạ.

Trường hợp được ghi nhận mới đây là bé Aidan Jackoviak Smith sinh vào năm 2010 với cân nặng sau sinh là khoảng 2kg. Trước đó, các bác sĩ chẩn đoán bé không bị bất kỳ biến chứng thai kì nào.

Tuy nhiên, sau đó, cậu bé lại mắc một chứng bệnh lạ trên khuôn mặt. Khi chỉ mới 3 tuần tuổi, Aidan bị lên cơn động kinh liên tục, toàn bộ khuôn mặt lẫn lưng và chân cậu bé phình to với một tốc độ chóng mặt.

Hiện tại, các chuyên gia vẫn đang đi tìm nguyên nhân khiến cậu bé này mắc chứng bệnh lạ như vậy. Nhưng qua một vài nghiên cứu, các bác sĩ cho rằng, Aidan là một trong số 130 người bị hội chứng Cloves, một dạng bệnh hiếm gặp bất thường về mạch máu, da và cả tủy sống. Số người mắc bệnh này rất hiếm, tỉ lệ 1/1.000.000 người.

Cũng theo các bác sĩ, não của cậu bé bị tổn thương nghiêm trọng nên sẽ không bao giờ có khả năng đi đứng hay nói chuyện như bao đứa trẻ bình thường khác.

(Nguồn: sưu tầm)

Khi nào uống thuốc Đông y hiệu quả?

 image003

Thuốc Đông y được dùng khá phổ biến và uống là hình thức phổ biến nhất. Tuy nhiên, mỗi loại bệnh lại có thời điểm và cách uống thuốc khác nhau.

Khi nào uống thuốc Đông y hiệu quả?

Thuốc Đông y được dùng khá phổ biến và uống là hình thức phổ biến nhất. Tuy nhiên, mỗi loại bệnh lại có thời điểm và cách uống thuốc khác nhau.

 

Uống trước khi ăn: Thường dùng cho các loại bệnh gan thận hư tổn hoặc những bệnh có vị trí phía dưới như các bệnh từ eo lưng trở xuống và các bệnh về đường ruột. Vì lúc này, dạ dày đang rỗng, thuốc tiếp xúc chủ yếu với niêm mạc đường tiêu hóa sẽ hấp thu nhanh và đạt được hiệu quả chữa trị.

 

Uống sau khi ăn: Thường áp dụng đối với nhưng loại thuốc có tác dụng kích thích đường tiêu hóa hay những loại thuốc trị bệnh có vị trí ở trên như bệnh tim, gan, phổi… Theo các thầy thuốc Đông y, đây là những loại thuốc có dược tính mạnh nên cần phải uống sau khi ăn để khỏi bị hấp thu quá nhanh dẫn tới trúng độc.

 

Uống nguội: Thuốc giải độc, cầm nôn, giải nhiệt đều nên uống nguội. Ví dụ như thuốc chữa trị sốt cao nên để thật nguội hãy uống.

 

Uống ấm: Những loại thuốc có tính bồi bổ thường có vị ôn hòa nên thường được chỉ định dùng khi ấm nhằm tăng cường tác dụng bổ khí và bổ dưỡng. Với thuốc bổ, sắc xong để nguội khoảng 35% thì uống là vừa.

 

Uống nóng: Thuốc trúng gió, cảm cúm, giải độc trừ hòa, nên uống lúc còn nóng để cho ra mồ hôi; Khi cần loại trừ hàn, tăng cường thông huyết mạnh, thường được chỉ định uống lúc nóng để phát huy hết tác dụng của thuốc.

 

Uống hết ngay một lần: Những loại thuốc mạnh liều lượng ít được sử dụng để uống một lần cho hết nhằm tập trung sức mạnh của thuốc, phát huy hiệu quả tối đa như thuốc thông đại tiểu tiện, tan máu ứ…

 

Uống nhiều lần: Những người bị bệnh về yết hầu, hay nôn mửa, cần uống thuốc làm nhiều lần và từ từ để thuốc có thời gian ngấm vào cơ thể và dạ dày.

Uống khi đói: Thuốc bổ cũng được khuyên dùng nên uống vào buổi sáng, lúc bụng đói để hấp thu được hết.

 

Uống trước khi ngủ: Thuốc an thần gây ngủ vì thế uống trước khi ngủ khoảng 30 phút sẽ giúp thuốc phát huy hiệu quả cao nhất. Bên cạnh đó, người mắc bệnh tích trệ, đau ngực sau khi uống thuốc nên nằm ngửa; người mắc bệnh ở đầu, não, tai, mắt, sau khi uống thuốc nên tĩnh dưỡng tại chỗ. Đối với người mắc bệnh đau hai bên suờn sau khi uống thuốc nên nằm nghiêng.

 

Uống cách nhật: Thường sử dụng đối với các loại thuốc tẩy giun sán. Trước khi đi ngủ uống một lần, sáng hôm sau uống một lần nữa khi bụng đói để giun sán bị tiêu diệt và dễ bài tiết ra ngoài.

BS Thanh Lan
Theo Sức khỏe & đời sống

Bệnh và tai biến thường gặp trong dịp Tết

gioquaTet

Vào dịp này, sự thiết điều độ trong đi lại, ăn uống, nghỉ ngơi… có thể khiến cho nhịp sinh học của cơ thể bị đảo lộn, gây ra bệnh tật. Các vấn đề về sức khỏe như: chứng cảm cúm, nhức đầu, rối loạn tiêu hóa… nhưng cũng có thể là các tai biến nguy hiểm, cần được can thiệp sớm.

Đối với người lớn

Tăng huyết áp: do phải tiếp khách nhiều, ăn uống thất thường, được mời uống nhiều trà, rượu, hút thuốc lá. Cơn cao huyết áp có thể dẫn đến tai biến mạch máu não, co thắt mạch vành. Khi có người bị các tai biến trên, cần đưa ngay bệnh nhân đến trung tâm cấp cứu gần nhất, không được cạo gió, cắt lễ.

Viêm loét dạ dày – tá tràng: hay xuất hiện trong dịp Tết do ăn uống không điều độ, dùng nhiều chất kích thích, bia rượu. Bệnh có thể gây biến chứng cấp tính (như chảy máu hoặc thủng dạ dày – tá tràng), đe dọa tính mạng người bệnh.

Bệnh gút: nhiều người lên cơn gút cấp do ăn nhiều thịt, uống nhiều bia rượu.

Đối với trẻ em

Nôn: trong dịp Tết, nguyên nhân chủ yếu khiến trẻ bị nôn là ăn quá nhiều, dị ứng thức ăn (phẩm màu, gia vị…). Nôn cũng có thể là biểu hiện của các bệnh đường tiêu hóa (viêm dạ dày – ruột, viêm màng não, u não, áp-xe não, tắc ruột, lồng ruột, viêm ruột thừa), dị tật đường tiêu hóa (như hẹp thực quản) hoặc rối loạn thần kinh thực vật, rối loạn co bóp dạ dày.

Tiêu chảy cấp: đây là biểu hiện viêm ruột non cấp tính do ăn phải thức ăn nhiễm khuẩn. Bệnh khởi phát đột ngột, trẻ thường bị nôn, sau đó tiêu chảy, sốt, đau bụng, bụng đầy hơi. Bệnh gây mất nước, rối loạn điện giải, có trường hợp tiến triển thành mạn tính.

Sốc phản vệ: thường bắt đầu từ đau bụng hoặc co thắt khí – phế quản, gây khó thở, suy hô hấp… Sốc xảy ra có thể do côn trùng cắn, tiêm kháng sinh, truyền dịch hoặc dị ứng thức ăn… Nếu phát hiện sớm hiện tượng sốc phản vệ, có thể điều trị hiệu quả bằng các loại thuốc đặc hiệu.

Để ăn Tết được vui tươi, đầm ấm, không để các bệnh xảy ra, mọi người nên phân bố thời gian nghỉ ngơi, vui chơi và ăn uống một cách hợp lý, điều độ. Những người đã mắc sẵn chứng bệnh nào đó nên để ý phát hiện sớm các triệu chứng đáng nghi ngờ (chẳng hạn như nhức đầu có thể là dấu hiệu tăng huyết áp). Nên hỏi ý kiến bác sĩ về việc dùng thuốc và điều trị bệnh.

(Theo SKDS)

Ho ra máu – Dấu hiệu không thể xem thường

image001

 

Ho ra máu là tình trạng bệnh lý thường gặp trong cấp cứu hồi sức các bệnh đường hô hấp. Mùa đông thời tiết lạnh nguyên nhân dẫn đến các bệnh đường hô hấp gia tăng. Trong đó bao gồm các bệnh là nguyên nhân gây ho ra máu cũng tăng theo.

Ho ra máu có nhiều thể. Thể nhẹ hay gặp nhất và không nguy hiểm. Tuy nhiên, có thể gặp thể ho ra máu nặng, rất nặng gọi ho ra máu sét đánh. Trường hợp này không thể xem thường vì máu ộc ra không cầm được dẫn đến trụy tuần hoàn và tử vong.

Triệu chứng báo hiệu

Trước khi ho ra máu, người bệnh cảm thấy bứt rứt, khó chịu, hồi hộp, có cảm giác nóng ra sau xương ức, cảm giác ngột ngạt, nặng nề như có gì đè ép lên ngực một cảm giác không bình thường như thời điểm trước khi có giông bão, một cảm giác khó thở. Người bệnh khò khè, lợm giọng, ngứa cổ họng, cảm thấy có cái gì đó lọc xọc trong ngực; miệng, họng có vị tanh của máu, sau đó ho, khạc, trào, ộc máu từ đường hô hấp dưới (vùng dưới thanh môn) ra ngoài.

Biểu hiện lâm sàng

Máu ho ra màu đỏ tươi, ra trong hoặc sau cơn ho. Máu có bọt, có các bóng khí, không lẫn thức ăn. Máu có thể lẫn đờm (chứng tỏ máu ra từ phế quản).

Số lượng máu ho ra có thể ít, chỉ vài tia máu lẫn trong các chất khạc, vài mililit hoặc ra với số lượng trung bình từ vài chục đến một vài trăm mililit, hoặc nhiều hơn, trên 200ml ộc ra ngoài ào ạt, sặc sụa, người bệnh vừa ộc máu, vừa ho, càng ho càng ộc ra nhiều máu hoặc máu chảy ra không thoát ra ngoài được, đông lại trong đường hô hấp, bít tắc các phế quản làm cho bệnh nhân giãy giụa, nghẹt thở.

Ho ra máu có thể ngắn chỉ một vài ngày, thậm chí trong một ngày hoặc kéo dài hơn 5-7 ngày rồi bớt dần và ngừng hẳn. Có trường hợp ho ra máu kéo dài cả tháng, thành từng đợt, mỗi đợt cách nhau vài ngày. Trung bình thì máu ra nhiều trong vài ba hôm rồi bớt dần và hết sau 10-15 ngày. Đuôi máu là thời điểm sau khi ho ra máu nhiều, máu màu đỏ tươi, nay ra số lượng ít dần, màu nâu, nâu xám, màu gỉ sắt hay bã trầu. Đó là giai đoạn đi đến ngừng hẳn của ho ra máu, có giá trị báo hiệu. Ho ra máu sét đánh (gọi là sét đánh do tính chất ra máu đột ngột, nhanh như sét đánh), máu ộc ra không cầm được, ào ạt tuôn ra cho đến khi chết. Người bệnh chết trong cảnh trụy tuần hoàn cấp do mất máu nhiều cấp tính. Ho ra máu nhiều hoặc ho ra máu lần đầu, người bệnh thường hốt hoảng, lo sợ, da tái xanh, vã mồ hôi, mạch nhanh. Nếu máu ra nhiều thì có tình trạng sốc do huyết áp tụt. Bệnh nhân có thể sốt.

Khi ho ra máu nghe phổi có thể thấy các tiếng ran ẩm, ran nổ, ran phế quản…

Nguyên nhân thường gặp

3 nguyên nhân hay gặp nhất của ho ra máu là:

– Lao phổi: Ho ra máu có thể là triệu chứng báo hiệu của lao phổi chưa được chẩn đoán được là biến chứng, là hậu quả của bệnh lao phổi đã được xác định.

– Giãn phế quản

– Ung thư phổi phế quản

Ho ra máu còn có thể do:

– Bệnh phế quản: viêm phế quản cấp tính, mạn tính, hen phế quản…

– Bệnh tim mạch: tăng huyết áp, suy tim…

– Bệnh toàn thân: Bệnh sinh chảy máu, thể trạng rải rác trong lòng mạch, nhiễm khuẩn huyết, bệnh thiếu vitamin C…

– Nguyên nhân ngoại khoa: chấn thương, đụng giập lồng ngực, gãy xương sườn, sức ép do bom, do chất nổ…

Ung thư phổi - một nguyên nhân gây ho ra máu.

Ung thư phổi – một nguyên nhân gây ho ra máu.

Xử trí khi bị ho ra máu

Tùy tình trạng nặng hay nhẹ, nguyên nhân gây ho rau máu mà điều trị tại nhà hay chuyển đến bệnh viện.

– Ho ra máu nhẹ: khi lượng máu ho ra dưới 50ml/ngày. Máu ho ra chỉ thành vệt, lẫn trong chất khạc hoặc chỉ ho ra vài ngụm máu nhỏ. Nguyên nhân cần thực hiện là: nằm nghỉ ngơi yên tĩnh, dùng các thuốc an thần cầm máu, giảm ho… Giảm các hoạt động, uống nước mát, lạnh. Ăn lỏng (sữa, súp) hoặc nửa lỏng (cháo, mì, miến, phở…).

Không ăn các thức ăn khó tiêu, không uống các đồ uống có chứa cồn hoặc chất kích thích.

Ho ra máu nhẹ có thể điều trị và chăm sóc tại nhà. Nếu bệnh nhân cầm được máu thì sau đó khi tình trạng ổn định vẫn cần đi khám để xác định nguyên nhân bệnh đã gây ra ho ra máu để điều trị triệt để. Nếu ra máu nhiều hơn hoặc ra máu dai dẳng phải chuyển bệnh nhân đến điều trị tại bệnh viện.

– Ho ra máu trung bình: Khi lượng máu ho ra từ 50-200 ml/ngày. Bệnh nhân cần được điều trị tại bệnh viện.

– Ho ra máu nặng: Khi lượng máu ho ra trên 200ml/ngày. Bệnh nhân cần được điều trị và theo dõi tại bệnh viện. Trường hợp mất máu nhiều cần thiết phải truyền máu.

Phòng ngừa

Như trên đã nói, có nhiều nguyên nhân ho ra máu nên việc phòng ngừa cần phòng ngừa nguyên nhân. Đặc biệt phòng ngừa và điều trị sớm các bệnh về hô hấp (lao, viêm phế quản…), tránh hút thuốc, điều trị bệnh huyết áp…

BS. Lê Văn Sơn

Ho ra máu do xơ gan?

Bố tôi 52 tuổi, vừa qua tự nhiên ho ra máu rất nhiều phải đi cấp cứu. Bác sĩ cho biết bố tôi bị giãn tĩnh mạch thực quản do xơ gan. Xin hỏi bệnh này có chữa được không? Phạm Văn Đoàn(Hà Nội)

Giãn tĩnh mạch thực quản là các tĩnh mạch dưới niêm mạc giãn to phát triển ở các bệnh nhân vốn bị tăng áp lực tĩnh mạch cửa. Đây là nguyên nhân thông thường nhất gây xuất huyết dạ dày – ruột và thực quản. Các nguyên nhân của tăng áp lực tĩnh mạch cửa có nhiều trong đó các bệnh do gan như xơ gan, teo gan, gan tim (tâm phế mãn)… Bệnh nhân có các biểu hiện nôn tự phát máu đỏ tươi hoặc màu bã cà phê kèm theo đại tiện ra máu đen hoặc máu tươi. Trong một số trường hợp có thể trước đó có nôn khan hoặc khó tiêu nên thường quy cho viêm dạ dày do nghiện rượu. Mặc dù phần lớn các bệnh nhân bị chảy máu giãn tĩnh mạch thực quản có những dấu hiệu của bệnh gan (như ban đỏ lòng bàn tay, u mạch nhện, chứng vú to của nam, yếu cơ, lách to, cổ trướng, vàng da…). Song có 20 – 30% bệnh nhân gan mạn tính bị xuất huyết da nguồn gốc ngoài giãn tĩnh mạch thực quản. Về xử lý: xuất huyết giãn tĩnh mạch có thể đe doạ tính mạng vì vậy cần được cấp cứu kịp thời tại bệnh viện bằng bồi phụ các sản phẩm máu là thiết yếu. Với bệnh nhân xơ gan, có rối loạn đông máu phải dùng huyết tương tươi, vitamin K nếu đang có xuất huyết. Phối hợp các thuốc giảm áp lực tĩnh mạch cửa (vasopressin, nitroglyxerin) và kháng sinh phòng nhiễm khuẩn theo chỉ định của thầy thuốc. Nếu điều trị nội khoa không kết quả phải can thiệp ngoại khoa (chèn ống thông có bóng lên tĩnh mạch đang chảy máu làm xơ cứng vùng vỡ mạch qua nội soi hoặc phẫu thuật nối tắt hệ cửa chủ; ghép gan là phương pháp giải quyết triệt để.

BS.Trần Mạnh Toàn

Làm gì khi ho ra máu?

Mẹ cháu sức khoẻ rất yếu, thỉnh thoảng có ho ra máu. Khi trời nóng, mẹ cháu ho nhiều hơn, mệt hơn. Chúng cháu cần làm gì để giúp mẹ?

Bùi Thị Hà (Hà Nội)

Về mùa hè, khi nhiệt độ tăng lên, nếu không làm tốt công tác dự phòng chống nóng, giải nhiệt có thể khiến cho bệnh ho ra máu tái diễn nhiều lần, thậm chí do ra nhiều máu mà tử vong. Vì thế, những người đang bị bệnh ho ra máu, về mùa hè cần phải chú ý mấy điểm sau đây: nghỉ ngơi và ngủ tốt. Tránh vận động mạnh hay gắng sức, để không tăng gánh nặng cho phổi. Tránh tắm rửa ngay sau khi ra mồ hôi, đề phòng nóng lạnh đột ngột sinh ra cảm cúm. Không nên đi ra ngoài trời nắng nóng giữa trưa. Kiêng các thực phẩm có tính kích thích như trà đặc, cà phê, ớt, rượu, thuốc lá… Nên dùng các thức ăn mát, tăng cường ăn hoa quả tươi để bổ sung lượng vitamin thiếu hụt. Về mùa hè hết sức kiêng dùng các loại nhân sâm và thức ăn giàu năng lượng nhằm tránh thừa nhiệt lượng, gây ra thổ huyết. Tránh ngừng thuốc đột ngột nếu người bệnh đang dùng các thuốc kiểm soát huyết áp. Ngoài ra ho ra máu do rất nhiều nguyên nhân như lao phổi, giãn phế quản, hẹp van 2 lá… thì cần điều trị nguyên nhân.

ThS. Hà Hùng Thủy

(Sưu tầm)